Tạp chí Khoa học và công nghệ nông nghiệp Trường Đại học Nông Lâm Huế https://tapchi.huaf.edu.vn/index.php/id20194 <p>Tóm tắt tạp chí</p> Trường Đại học Nông Lâm, Đại học Huế vi-VN Tạp chí Khoa học và công nghệ nông nghiệp Trường Đại học Nông Lâm Huế 2588-1256 THỰC TRẠNG NHIỄM MẦM BỆNH KÝ SINH TRÙNG TRÊN RAU ĂN SỐNG TẠI ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HUẾ VÀ CÁC VÙNG PHỤ CẬN https://tapchi.huaf.edu.vn/index.php/id20194/article/view/891 <p>Nghiên cứu này được thực hiện để điều tra mức độ ô nhiễm trứng ký sinh trùng trên các loại rau ăn sống tại địa bàn thành phố Huế và các vùng phụ cận. Trứng ký sinh trùng được phát hiện bằng phương pháp phù nổi và phương pháp lắng cặn. Kết quả nghiên cứu cho thấy, tỷ lệ nhiễm chung các loại ký sinh trùng trên rau là 90,58%. Rau ăn sống bị nhiễm nhiều loài ký sinh trùng khác nhau bao gồm các loài giun tròn (<em>Toxocara </em>spp., <em>Ancylostoma </em>spp., <em>Trichuris vulpis, Capillaria </em>spp., <em>Enterobius vermicularis, Ascarid lumbricodes</em>), sán lá (<em>Fasciola </em>spp., <em>Clonorchis sinensis</em>), sán dây (<em>Taenia </em>spp., <em>Dipylydium caninum</em>) và cầu trùng (<em>Eimeria </em>spp<em>., Isospora </em>spp.). 10 loại rau ăn sống phổ biến bao gồm rau muống, rau dền, rau húng quế, rau cải, rau diếp cá, ngò gai, rau má, rau răm, rau tía tô và rau xà lách đều bị nhiễm ký sinh trùng với tỷ lệ cao, dao động từ 77,77% đến 100%. Không có sự sai khác có ý nghĩa về mặt thống kê về tỷ lệ nhiễm ký sinh trùng trên rau theo nguồn nước và phân bón. Rau được tưới bằng nước giếng, nước máy, nước sông hồ cho tỷ lệ nhiễm ký sinh trùng tương đương nhau, lần lượt là 91,3, 81,81 và 92,85%. Tỷ lệ nhiễm ký sinh trùng trên các mẫu rau được bón phân chuồng và không bón phân chuồng lần lượt là 91,49 và 90,11%.</p> Hồ Thị Dung Phạm Hoàng Sơn Hưng Nguyễn Thị Hoa Nguyễn Đinh Thùy Khương Nguyễn Thị Thu Lê Trần Long Bản quyền (c) 2022 Tạp chí Khoa học và công nghệ nông nghiệp Trường Đại học Nông Lâm Huế 2022-06-15 2022-06-15 6 2 2928 2935 10.46826/huaf-jasat.v6n2y2022.891 SỰ LƯU HÀNH VÀ MỨC ĐỘ KHÁNG KHÁNG SINH CỦA VI KHUẨN STREPTOCOCUS SPP. PHÂN LẬP TỪ LỢN NUÔI Ở THỊ XÃ HƯƠNG TRÀ, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ https://tapchi.huaf.edu.vn/index.php/id20194/article/view/900 <p>Liên cầu khuẩn (<em>Streptococcus</em> spp.) là một trong những vi khuẩn gây ra các bệnh trầm trọng trên cả người và động vật như viêm màng não, viêm phổi, và nhiễm trùng máu, đây là nguyên nhân làm tăng chi phí điều trị và giảm hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi. Kháng sinh được sử dụng thiếu kiểm soát trong chăn nuôi được xem là nguyên nhân làm tăng khả năng kháng kháng sinh (KKS) của nhiều vi khuẩn trong đó có <em>Streptococcus</em> spp.. Mục tiêu của nghiên cứu này nhằm xác định mức độ lưu hành và mức độ KKS của <em>Streptococcus </em>spp. phân lập từ lợn nuôi tại thị xã Hương Trà, Thừa Thiên Huế. Vi khuẩn <em>Streptococcus</em> spp. được phân lập từ mẫu dịch mũi lấy từ lợn khoẻ mạnh bằng phương pháp thường quy. Mức độ KKS của các chủng <em>Streptococcus </em>spp. được đánh giá bằng phương pháp khuếch tán trên đĩa thạch. Kết quả cho thấy có 57,9% (40/69) mẫu từ lợn dương tính với <em>Streptococcus </em>spp.; và có sự khác nhau về tỷ lệ dương tính với vi khuẩn này ở hai phường nghiên cứu (p &lt; 0.05). Tỷ lệ cao các chủng phân lập được kháng lại oxytetracycline (60,0%), linezolid (40,0%), doxycycline (33,3%); ngược lại các chủng nãy cũng nhạy cảm với enrofloxacin (100,0%), cefotaxim3 (93,3%), cephalexin (86,6%), và streptomycin (80,0%). Có 12/15 (86,6%) chủng kháng lại ít nhất một loại KS; 46,6% (7/15) chủng thể hiện tính đa kháng thuốc. Kết quả của nghiên cứu này cung cấp những thông tin quan trọng giúp các nhà quản lý, cán bộ thú y cơ sở và người chăn nuôi có định hướng sử dụng KS hợp lý nhằm hạn chế tình trạng KKS của vi khuẩn <em>Streptococcus </em>spp. gây bệnh trên cả người và vật nuôi.</p> Nguyễn Thị Quỳnh Anh Nguyễn Văn Chào Trần Thị Na Lê Minh Đức Bùi Ngọc Bích Bản quyền (c) 2022 Tạp chí Khoa học và công nghệ nông nghiệp Trường Đại học Nông Lâm Huế 2022-06-15 2022-06-15 6 2 2936 2943 10.46826/huaf-jasat.v6n2y2022.900 ĐA HÌNH EXON 5 CỦA GEN THỤ THỂ PROLACTIN VÀ INTRON 1 CỦA GEN HORMONE SINH TRƯỞNG Ở GÀ RI LAI ĐƯỢC NUÔI TẠI THỪA THIÊN HUẾ https://tapchi.huaf.edu.vn/index.php/id20194/article/view/909 <p>Gen thụ thể Prolactin (PRLR) và gen hormone sinh trưởng (GH) được xem là những gen ứng cử về tiềm năng di truyền để nâng cao năng suất đẻ trứng ở gia cầm. Nghiên cứu này được tiến hành nhằm xác định đa hình các nucleotide tại vị trí exon 5 gen PRLR và intron 1 gen GH của gà Ri lai bằng kỹ thuật PCR-RFLP. Tổng số 30 mẫu máu của gà Ri lai ở giai đoạn đẻ trứng đã được thu thập từ 10 nông hộ ở các huyện Quảng Điền và Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế để phân tích đa hình gen. Kết quả nghiên cứu cho thấy, ở gà Ri lai, đa hình intron 1 gen GH xuất hiện 3 kiểu gen là AA, AB và BB. Kiểu gen AA của đa hình intron 1 gen GH xuất hiện với tần số thấp (0,07), trong khi đó kiểu gen BB xuất hiện với tần số cao (0,53). Tại vị trí exon 5 gen PRLR không phát hiện tính đa hình (100% mẫu máu của gà Ri lai nghiên cứu đều mang kiểu gen AA). Các kết quả này là cơ sở để tiếp tục nghiên cứu về mối quan hệ giữa tính đa hình tại các vị trí exon 5gen PRLR và intron 1 gen GH với các đặc điểm kiểu hình của gà Ri lai nhằm chọn lọc những quần thể gà có năng suất trứng cao.</p> Nguyễn Thanh Thủy Lê Viết Quân Hồ Lê Quỳnh Châu Dương Thanh Hải Dương Thị Hương Phan Thị Duy Thuận Bản quyền (c) 2022 Tạp chí Khoa học và công nghệ nông nghiệp Trường Đại học Nông Lâm Huế 2022-06-15 2022-06-15 6 2 2944 2949 10.46826/huaf-jasat.v6n2y2022.909 ẢNH HƯỞNG CỦA NHIỆT ĐỘ KẾT HỢP ĐỘ MẶN LÊN SINH LÝ, TĂNG TRƯỞNG VÀ MEN TIÊU HÓA CỦA CÁ LÓC (Channa striata) GIAI ĐOẠN CÁ BỘT LÊN CÁ GIỐNG https://tapchi.huaf.edu.vn/index.php/id20194/article/view/925 <p>Nghiên cứu nhằm đánh giá ảnh hưởng kết hợp của nhiệt độ và độ mặn lên sinh lý, tăng trưởng và hoạt tính enzyme tiêu hoá của cá lóc (Channa striata) giai đoạn cá bột lên cá giống. Cá bột được ương ở 3 mức nhiệt độ (27<sup>o</sup>C, 30<sup>o</sup>C và 33<sup>o</sup>C) kết hợp với 3 mức độ mặn (0, 5 và 10‰). Kết quả cho thấy độ mặn và nhiệt độ không ảnh hưởng đến các chỉ tiêu hồng cầu, hemoglobin và hematocrit của cá. Tuy nhiên, số lượng bạch cầu giảm ở nghiệm thức độ mặn 27<sup>o</sup>C-5‰, 30<sup>o</sup>C-5‰ và nhóm nhiệt độ 33<sup>o</sup>C. Nồng độ glucose giảm có ý nghĩa ở nhóm độ mặn 5‰ so với 0‰ (p&lt;0,05). Nồng độ ion Cl<sup>-</sup> của cá tăng khi nhiệt độ và độ mặn tăng nhưng điều hòa áp suất thẩm thấu và Na<sup>+</sup> không bị ảnh hưởng. Độ mặn và nhiệt độ không làm thay đổi hoạt tính amylase, trypsin và pepsin nhưng chymotrypsin trong ruột cá giảm ở nghiệm thức độ mặn và nhiệt độ cao. Cá đạt khối lượng cao nhất ở 27<sup>o</sup>C-0‰ và tỷ lệ sống cao nhất ở 33<sup>o</sup>C-0‰. Như vậy, độ mặn kết hợp nhiệt độ cao có ảnh hưởng đến tăng trưởng của cá lóc ở giai đoạn này.</p> Đỗ Thị Thanh Hương Nguyễn Thị Kim Hà Nguyễn Tính Em Nguyễn Thanh Phương Bản quyền (c) 2022 Tạp chí Khoa học và công nghệ nông nghiệp Trường Đại học Nông Lâm Huế 2022-06-15 2022-06-15 6 2 2950 2960 10.46826/huaf-jasat.v6n2y2022.925 NGƯỜI THU GOM VÀ QUẢN TRỊ CHUỖI GIÁ TRỊ NUÔI TRỒNG THỦY SẢN TẠI ĐẦM PHÁ TAM GIANG - CẦU HAI, THỪA THIÊN HUẾ https://tapchi.huaf.edu.vn/index.php/id20194/article/view/896 <p>Nuôi trồng thủy sản tại đầm phá Tam Giang - Cầu Hai đã và đang trở thành sinh kế chính cho người dân nơi đây. Tuy nhiên, hoạt động tiêu thụ sản phẩm thủy sản vẫn đang bị kiểm soát và chi phối bởi tác nhân trung gian trong chuỗi giá trị. Nghiên cứu này nhằm mục đích khám phá và phân tích vai trò của người thu gom và những yếu tố cấu thành tác nhân quản trị trong chuỗi giá trị nuôi trồng thủy sản. Nghiên cứu được thực hiện dựa trên 55 phỏng vấn bán cấu trúc và thu thập các thông tin thứ cấp liên quan. Kết quả nghiên cứu cho thấy, sự kiểm soát của người thu gom được thể hiện trong dòng chảy sản phẩm thủy sản, khi tất cả sản phẩm phải qua người thu gom trước khi phân phối qua các kênh tiêu thụ khác nhau. Mỗi người thu gom đều xây dựng một ranh giới và phạm vi hoạt động cụ thể, khi mỗi người có một nhóm người nuôi trồng chuyên cung ứng thủy sản và một nhóm người bán buôn, bán lẻ sẵn sàng thu mua. Với chiến lược thu mua toàn bộ sản phẩm, hỗ trợ tài chính cho người nuôi trồng và người bán buôn, bán lẻ, xây dựng mối quan hệ dựa trên sự tin tưởng và ràng buộc đã giúp người thu gom trở thành tác nhân quản trị chuỗi.</p> Nguyễn Văn Chung Lê Thị Hoa Sen Nguyễn Tiến Dũng Hoàng Dũng Hà Trần Cao Úy Lê Chí Hùng Cường Lê Việt Linh Bản quyền (c) 2022 Tạp chí Khoa học và công nghệ nông nghiệp Trường Đại học Nông Lâm Huế 2022-06-15 2022-06-15 6 2 2961 2972 10.46826/huaf-jasat.v6n2y2022.896 TÌNH HÌNH CHĂN NUÔI VÀ TIÊU THỤ BÒ LAI CỦA NÔNG HỘ Ở VÙNG ĐỒNG BẰNG TỈNH QUẢNG NGÃI https://tapchi.huaf.edu.vn/index.php/id20194/article/view/865 <p>Nghiên cứu nhằm phân tích quy mô, cơ cấu đàn, phương thức chăn nuôi, năng suất, tình hình tiêu thụ bò và các khó khăn của nông hộ chăn nuôi bò lai ở vùng đồng bằng tỉnh Quảng Ngãi. Nghiên cứu tiến hành khảo sát 160 hộ chăn nuôi bò tại 4 xã thuộc 4 huyện vùng đồng bằng. Kết quả nghiên cứu cho thấy chăn nuôi bò lai nông hộ quy mô nhỏ vẫn là phổ biến với 93,8% số hộ có quy mô dưới 10 con/hộ. Quy mô chăn nuôi bò lai trung bình năm 2020 là 5,2 con/hộ. Bò lai sinh sản của nông hộ chủ yếu lai Brahman chiếm 60,9% tổng đàn bò sinh sản. Khoảng cách lứa đẻ trung bình của bò cái lai là 388,6 ngày. Bò lai chuyên thịt nuôi trong nông hộ chủ yếu là giống lai BBB và lai Charolais chiếm tỷ lệ lần lượt là 64,2% và 16,2% tổng số bò thịt của hộ. Khối lượng bò thịt xuất bán trung bình đạt 420 kg ở độ tuổi bò thịt bình quân là 18,4 tháng. Bò thịt và bê con được tiêu thụ trong tỉnh thông qua các thương lái và lò mổ địa phương là chủ yếu. Thiếu thông tin thị trường, kỹ năng định giá bán bò kém, kỹ thuật chăn nuôi còn hạn chế, thiếu nguồn thức ăn cho bò vào mùa mưa và dịch bệnh trên đàn bò là những khó khăn phổ biến của nông hộ chăn nuôi bò lai vùng đồng bằng tỉnh Quảng Ngãi.</p> Lê Văn Nam Nguyễn Tiến Dũng Đinh Thị Kim Oanh Lê Đức Thạo Đinh Văn Dũng Bản quyền (c) 2022 Tạp chí Khoa học và công nghệ nông nghiệp Trường Đại học Nông Lâm Huế 2022-06-15 2022-06-15 6 2 2973 2982 10.46826/huaf-jasat.v6n2y2022.865 KHẢ NĂNG KHÁNG OXY HÓA, ỨC CHẾ ENZYME α-AMYLASE VÀ α-GLUCOSIDASE CỦA CAO CHIẾT TỪ LÁ CÂY LỘC VỪNG (Barringtonia acutangula) https://tapchi.huaf.edu.vn/index.php/id20194/article/view/892 <p>Trong nghiên cứu này, khả năng ức chế hoạt động enzyme α-amylase, α-glucosidase và kháng oxy hóa của lá cây lộc vừng được nghiên cứu <em>in vitro</em>. Lá cây lộc vừng được ly trích bằng phương pháp soxhlet bằng các dung môi nước, ethanol 70% và methanol 70%. Hàm lượng phenolic, flavonoid, khả năng ức chế α-amylase, α-glucosidase và kháng oxy hóa được xác định bằng việc đo quang phổ ở bước sóng 510 nm, 765 nm, 660 nm, 405 nm và 517 nm. Kết quả, độ ẩm đạt 70,64% và hiệu suất chiết của lá cây lộc vừng đạt 9,78-13,13%. Lá cây lộc vừng được xác định có chứa các hợp chất alkaloid, terpenoid, flavonoid, steroid, tannin và phenol. Hàm lượng polyphenol của cao chiết lá cây lộc vừng lần lượt là 70,06 (nước); 77,94 (ethanol); 85,23 (methanol) mg GE/g cao chiết. Hàm lượng flavonoid của cao chiết lá cây lộc vừng lần lượt là 88,91 (nước); 109,65 (ethanol); 125,56 (methanol) mg quercetin/g cao chiết. Cao chiết lá cây lộc vừng có khả năng kháng oxy hóa bằng DPPH với giá trị IC<sub>50</sub> lần lượt là 121,16 µg/mL (nước); 109,60 µg/mL (ethanol) và 98,42 µg/mL (methanol). Cao chiết lá cây lộc vừng còn có khả năng ức chế α-amylase với giá trị IC<sub>50</sub> lần lượt là 145,31 µg/mL (nước); 131,72 µg/mL (ethanol) và 120,62 µg/mL (methanol). Cao chiết lá cây lộc vừng có khả năng ức chế α-glucosidase với giá trị IC<sub>50</sub> lần lượt là 197,6 µg/mL (nước); 176,73 µg/mL (ethanol) và 158,01 µg/mL (methanol).</p> Nguyễn Phạm Tuấn Nguyễn Thị Ái Lan Bản quyền (c) 2022 Tạp chí Khoa học và công nghệ nông nghiệp Trường Đại học Nông Lâm Huế 2022-06-15 2022-06-15 6 2 2983 2993 10.46826/huaf-jasat.v6n2y2022.892 NGHIÊN CỨU TÁI SINH CHỒI IN VITRO CÂY DƯA LƯỚI (Cucumis melo L.) https://tapchi.huaf.edu.vn/index.php/id20194/article/view/902 <p>Nghiên cứu này được thực hiện để xây dựng quy trình tái sinh chồi cây dưa lưới <em>in vitro</em> từ các loại mô của cây dưa lưới mới nảy mầm. Kết quả nghiên cứu cho thấy, thời gian thích hợp để khử trùng hạt dưa lưới bằng dung dịch H<sub>2</sub>O<sub>2</sub> 15% là 9 phút với tỷ lệ mẫu sạch là 80%, tỷ lệ hạt sống và sạch nảy mầm là 100%. Mô lá, cuống lá và đốt thân của cây <em>in vitro</em> nảy mầm từ hạt có khả năng cảm ứng phát sinh hình thái cao hơn lá mầm, trụ dưới lá mầm và chồi đỉnh. Môi trường thích hợp để tạo mô sẹo từ phiến lá và cuống lá là môi trường cơ bản có bổ sung 0,3 mg/L NAA (naphthaleneacetic acid) hoặc 0,3 mg/L IBA (indole-3 butyric acid) với tỷ lệ tạo mô sẹo đạt từ 80% - 100%. Môi trường cơ bản có bổ sung 0,5 mg/L BAP (6-benzylaminopurine) và 0,1 mg/L NAA là môi trường thích hợp nhất cho quá trình cảm ứng tạo chồi từ mô sẹo, tỷ lệ tạo chồi là 100% với số chồi/mẫu là 4,3 chồi. Môi trường nuôi cấy cơ bản bổ sung 0,6 mg/L BAP hoặc 0,3 mg/L kinetin là môi trường thích hợp nhất để tái sinh chồi trực tiếp từ đốt thân, tỷ lệ tạo chồi là 100%, số chồi tạo thành lần lượt là 2,2 chồi/mẫu và 1,93 chồi/mẫu.</p> Trần Thị Triêu Hà Lã Thị Thu Hằng Dương Thanh Thủy Bản quyền (c) 2022 Tạp chí Khoa học và công nghệ nông nghiệp Trường Đại học Nông Lâm Huế 2022-06-15 2022-06-15 6 2 2994 3004 10.46826/huaf-jasat.v6n2y2022.902 XÂY DỰNG HỆ THỐNG CHẨN ĐOÁN VÀ KHUYẾN CÁO TÍCH HỢP ĐỐI VỚI DINH DƯỠNG N, P, K CHO CÂY QUÝT HỒNG (Citrus reticulate Blanco.) TẠI HUYỆN LAI VUNG, TỈNH ĐỒNG THÁP https://tapchi.huaf.edu.vn/index.php/id20194/article/view/947 <p>Nghiên cứu được thực hiện nhằm mục tiêu xây dựng hệ thống chẩn đoán và khuyến cáo tích hợp cho cây quýt hồng dựa trên hàm lượng dưỡng chất N, P, K trong lá. Mẫu lá được thu từ 25 vườn trồng quýt hồng tại huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp. Mỗi vườn chọn 10 cây quýt hồng khỏe mạnh, không mang trái và thu 10 lá cây<sup>-1</sup> từ cành cấp hai để phân tích hàm lượng N, P và K. Kết quả nghiên cứu cho thấy, hàm lượng dưỡng chất N và K trong lá của nhóm năng suất cao cao hơn nhóm năng suất thấp, nhưng hàm lượng dưỡng chất P trong lá giữa nhóm năng suất cao và nhóm năng suất thấp tương đương nhau. Xây dựng được bộ DRIS chuẩn gồm trung bình, hệ số biến thiên và phương sai để chẩn đoán tình trạng dinh dưỡng N, P, K cho cây quýt hồng, với 3 cặp tỷ lệ dưỡng chất được chọn như tiêu chuẩn DRIS là P/N, K/N và P/K.</p> Nguyễn Quốc Khương Lê Thị Như Ý Trần Ngọc Hữu Lê Vĩnh Thúc Trần Minh Mẫn Trần Chí Nhân Lý Ngọc Thanh Xuân Bản quyền (c) 2022 Tạp chí Khoa học và công nghệ nông nghiệp Trường Đại học Nông Lâm Huế 2022-06-15 2022-06-15 6 2 3005 3010 10.46826/huaf-jasat.v6n2y2022.947 ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN, NĂNG SUẤT VÀ MỘT SỐ HỢP CHẤT THIÊN NHIÊN CÓ TRONG CÂY DIỆP HẠ CHÂU TRÊN HAI LOẠI ĐẤT TẠI TỈNH THỪA THIÊN HUẾ https://tapchi.huaf.edu.vn/index.php/id20194/article/view/478 <p>Diệp hạ châu (<em>Phyllanthus amarus </em>Schum. et Thonn) còn gọi là cây chó đẻ thân xanh, diệp hạ châu đắng. Nghiên cứu thực hiện để đánh giá sự sinh trưởng, phát triển, năng suất và sự hiện diện một số hợp chất hữu cơ thiên nhiên được chiết xuất từ cây diệp hạ châu được trồng ở 2 vùng có điều kiện thổ nhưỡng khác nhau. Kết quả cho thấy khi trồng cây diệp hạ châu trên đất phù sa cho kết quả về sinh trưởng, phát triển và năng suất cao hơn so với trên đất xám bạc màu, cụ thể: sau 60 ngày sau trồng, tốc độ tăng trưởng của cây ở vùng đất phù sa đạt 54,18 cm là cao hơn so với vùng đất xám bạc màu chỉ đạt 48,38 cm, có p &lt; 0,05. Năng suất lý thuyết và năng suất thực thu ở vùng trồng trên đất phù sa đạt lần lượt là 7,00 và 4,10 tấn/ha trong khi đó ở vùng đất xám bạc màu đạt lần lượt 6,50 và 3,60 tấn/ha. Định tính trong dung môi ethanol ở 2 vùng đất trồng khác nhau đều có sự hiện diện các các hợp chất hữu cơ thiên nhiên: alkaloid, polyphenol, flavonoid và tanin, tuy nhiên ở vùng trồng trên đất xám bạc màu cho kết quả hợp chất tanin và alkaloid có phản ứng dương tính rất rõ (+++) hơn so với ở vùng trồng trên đất phù sa.</p> Nguyễn Văn Đức Phan Văn Cường Châu Võ Trung Thông Phan Thị Lâm Phan Thị Duy Thuận Bản quyền (c) 2022 Tạp chí Khoa học và công nghệ nông nghiệp Trường Đại học Nông Lâm Huế 2022-06-15 2022-06-15 6 2 3011 3019 10.46826/huaf-jasat.v6n2y2022.478 ẢNH HƯỞNG CỦA MỠ HEO, TINH BỘT BIẾN TÍNH VÀ CHITOFOOD LÊN ĐẶC TÍNH CẤU TRÚC VÀ MÀU SẮC CỦA GEL XÚC XÍCH LÀM TỪ CÁ RÔ PHI (Oreochromis niloticus) https://tapchi.huaf.edu.vn/index.php/id20194/article/view/903 <p>Mục tiêu của nghiên cứu này là đánh giá ảnh hưởng của mỡ heo, tinh bột biến tính và chitofood (Poly- β- (1-4) -D-glucosamine) lên đặc tính cấu trúc và màu sắc của gel xúc xích làm từ cá rô phi (<em>Oreochromis niloticus</em>). Nghiên cứu đã thử nghiệm 4 mức tỷ lệ mỡ heo: thịt cá là 10:90, 15:85, 20:80 và 25:75. Kết quả cho thấy, xúc xích chứa 20% mỡ heo và 80% thịt cá rô phi có khả năng giữ nước (<em>WHC</em>) đạt giá trị cao nhất (93,05%), đặc tính cấu trúc lớn nhất (lực cắt đạt 3,94 N và độ uốn gập đạt 4,60 điểm) và khác biệt có ý nghĩa thống kê so với các mức còn lại (p&lt;0,05). Độ trắng (<em>WI</em>) và độ sáng (<em>L<sup>*</sup></em>) của sản phẩm xúc xích ở nghiệm thức chứa mỡ heo 20% (78,42 và 83,09) và 25% (77,58 và 82,88) đạt giá trị cao nhất (p&lt;0,05). Kết quả nghiên cứu cũng đã xác định ở mức bổ sung 4% tinh bột biến tính tạo được sản phẩm có đặc điểm về cấu trúc và màu sắc tốt nhất (so với các mức bổ sung tinh bột khác 2%, 3% và 5%), với giá trị <em>WHC</em> đạt 94,66%, lực cắt đạt 4,04 N và độ uốn gập đạt 4,6 điểm (p&lt;0,05). Sản phẩm xúc xích khi bổ sung chitofood với tỷ lệ từ 0,2% - 0,5% có độ ẩm thấp hơn so với mẫu đối chứng (p&lt;0,05), tuy nhiên, không có sự khác biệt lớn về độ ẩm giữa các nghiệm thức có bổ sung chitofood (p&gt;0,05). Xúc xích ở nghiệm thức bổ sung 0,3% chitofood đạt giá trị <em>WHC</em> (95,02%), lực cắt (3,36 N) lớn nhất, tuy nhiên sự sai khác này không có ý nghĩa thống kê so với nghiệm thức có bổ sung 0,4% và 0,5% chitofood (p&gt;0,05). Kết quả này là cơ sở khoa học cho xây dựng quy trình chế biến xúc xích cá rô phi.</p> Phan Đỗ Dạ Thảo Nguyễn Thị Diễm Hương Võ Điều Bản quyền (c) 2022 Tạp chí Khoa học và công nghệ nông nghiệp Trường Đại học Nông Lâm Huế 2022-06-15 2022-06-15 6 2 3020 3029 10.46826/huaf-jasat.v6n2y2022.903 ẢNH HƯỞNG CỦA LHRHa VÀ NHIỆT ĐỘ NƯỚC ĐẾN SINH SẢN CỦA CÁ TỲ BÀ BƯỚM HỔ (Sewellia lineolata) https://tapchi.huaf.edu.vn/index.php/id20194/article/view/904 <p>Mục đích của nghiên cứu là góp phần xây dựng quy trình sinh sản nhân tạo cá Tỳ bà bướm hổ. Nghiên cứu gồm 2 thí nghiệm. Ở thí nghiệm 1, cá được tiêm hocmon LHRHa (Luteinizing hormone-releasing hormone analog) với liều lượng 50 µg; 100 µg; 150 µg và 200 µg kết hợp với 10 mg DOM (Domperidone)/1 kg khối lượng, tương ứng với 4 nghiệm thức NT1.1, NT1.2, NT1.3, NT1.4 và nghiệm thức đối chứng không tiêm (ĐC1). Thí nghiệm 2 dùng phương pháp nâng nhiệt độ nước để kích thích cá sinh sản, với 3 nghiệm thức ĐC2 (nghiệm thức đối chứng, giữ nguyên nhiệt độ nước ở 23ºC), NT2.1 (nâng nhiệt độ nước từ 23ºC lên 26ºC) và NT2.2 (nâng nhiệt độ nước từ 23ºC lên 29ºC). Kết quả thí nghiệm 1 cho thấy, ở nghiệm thức ĐC1 cá không đẻ trứng. Thời gian hiệu ứng của NT4 đạt ngắn nhất (6,44 giờ) và sai khác có ý nghĩa thống kê với các nghiệm thức còn lại (p &lt; 0,05), tuy nhiên không có sự khác biệt lớn về thời gian hiệu ứng giữa NT1 và NT2 (p &gt; 0,05). Tỷ lệ cá đẻ đạt cao nhất (45,56%) ở NT3 và NT4 và khác biệt có ý nghĩa thống kê với NT1 và NT2 (p &lt; 0,05). Tỷ lệ thụ tinh và tỷ lệ nở của trứng giữa các nghiệm thức thí nghiệm không sai khác (p &gt; 0,05). Kết quả thí nghiệm 2 cho thấy, ở nghiệm thức ĐC2 cá không đẻ trứng. Hai nghiệm thức NT1.1 và N2.2 có tỷ lệ đẻ lần lượt là 40,00 ± 6,67% và 43,3 ± 8,82%. Thời gian hiệu ứng, tỷ lệ đẻ, thụ tinh và tỷ lệ nở của trứng giữa 2 nghiệm thức này sai khác không có ý nghĩa thống kê (p &gt; 0,05).</p> Võ Điều Nguyễn Văn Huệ Phan Đỗ Dạ Thảo Bản quyền (c) 2022 Tạp chí Khoa học và công nghệ nông nghiệp Trường Đại học Nông Lâm Huế 2022-06-15 2022-06-15 6 2 3030 3039 10.46826/huaf-jasat.v6n2y2022.904 ẢNH HƯỞNG CỦA MÀNG BỌC NANOCHITOSAN NHẰM KÉO DÀI THỜI HẠN SỬ DỤNG CỦA TRỨNG GÀ TƯƠI https://tapchi.huaf.edu.vn/index.php/id20194/article/view/906 <p>Nghiên cứu này được thực hiện nhằm đánh giá ảnh hưởng của màng bọc nanochitosan với các nồng độ khác nhau đến chất lượng trứng gà tươi dựa vào các biến đổi cảm quan và chất lượng bên trong trứng trong 30 ngày ở nhiệt độ thường. Mẫu trứng bọc màng nanochitosan nồng độ 0,4% có khả năng duy trì hạng chất lượng ở mức A đến 15 ngày sau khi đẻ. Trong khi đó, mẫu trứng gà tươi không bọc màng biến đổi chất lượng rất nhanh từ hạng AA xuống hạng B chỉ sau 5 ngày bảo quản ở nhiệt độ thường. Đồng thời các chỉ tiêu chất lượng khác (HHKL, HU, YI, pH lòng trắng, biến đổi hàm lượng NH<sub>3</sub> trong trứng) đều có biến đổi lớn hơn so với trứng có xử lý bọc màng nanochitosan khi bảo quản ở nhiệt độ thường. Kết quả nghiên cứu đã chứng tỏ màng bao nanochitosan có khả năng kéo dài thời gian bảo quản trứng gà tươi.</p> Lê Thanh Long Nguyễn Thị Thuỷ Tiên Hoàng Thị Diệu Hương Bản quyền (c) 2022 Tạp chí Khoa học và công nghệ nông nghiệp Trường Đại học Nông Lâm Huế 2022-06-15 2022-06-15 6 2 3040 3049 10.46826/huaf-jasat.v6n2y2022.906 NGHIÊN CỨU TỔNG HỢP NANO BẠC SỬ DỤNG DỊCH CHIẾT TỪ CỦ NGHỆ TƯƠI (Curcuma Longa L.) VÀ KHẢO SÁT KHẢ NĂNG KHÁNG KHUẨN Vibrio Parahaemolyticus https://tapchi.huaf.edu.vn/index.php/id20194/article/view/952 <p>Công nghệ nano xanh có những ứng dụng đáng kể trong các lĩnh vực khoa học nông nghiệp-thực phẩm. Trong nghiên cứu này, chúng tôi tổng hợp các hạt nano bạc từ tiền chất là AgNO<sub>3</sub>, sử dụng dịch chiết từ củ nghệ tươi làm tác nhân khử và alginate như là chất hoạt động bề mặt. Sự hình thành các hạt nano bạc được quan sát bằng sự thay đổi màu sắc của hỗn hợp phản ứng từ vàng nhạt sang nâu đỏ. Các hạt nano bạc tổng hợp được khảo sát bằng cách sử dụng quang phổ UV-Vis, phân tích TEM và SEM. Kết quả đo phổ UV-Vis cho thấy đỉnh hấp thụ cực đại trong khoảng 416 nm. Phân tích TEM và SEM khẳng định các hạt nano bạc tổng hợp có dạng hình cầu với kích thước hạt khoảng (10 - 45) nm khi sử dụng 20 mL dịch chiết củ nghệ tươi. Các hạt nano bạc được tổng hợp từ dịch chiết củ nghệ tươi đã ức chế hiệu quả sự phát triển của vi khuẩn <em>V. parahaemolyticus</em>. Hoạt động diệt khuẩn của các hạt nano bạc đối với <em>V. parahaemolyticus </em>được thể hiện qua đường kính vòng kháng khuẩn từ 6,84 đến 16,70 mm tương ứng nồng độ khảo sát từ 6,25 đến 200 ppm. </p> Võ Văn Quốc Bảo Lê Thị Kim Anh Nguyễn Thị Phương Nga Bản quyền (c) 2022 Tạp chí Khoa học và công nghệ nông nghiệp Trường Đại học Nông Lâm Huế 2022-06-15 2022-06-15 6 2 3050 3057 10.46826/huaf-jasat.v6n2y2022.952 ĐÁNH GIÁ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CÂY BA KÍCH TÍM (Morinda officinalis How.) NUÔI CẤY MÔ TRONG QUÁ TRÌNH THUẦN DƯỠNG Ở GIAI ĐOẠN VƯỜN ƯƠM https://tapchi.huaf.edu.vn/index.php/id20194/article/view/910 <p>Ba kích tím (<em>Morinda officinalis</em> How.) là cây có giá trị dược liệu cao nên được trồng trong những năm gần đây. Việc thuần dưỡng cây nuôi cấy mô thành công góp phần cung cấp nguồn cây giống chất lượng tốt cho sản xuất. Các thí nghiệm về ảnh hưởng của thành phần giá thể, độ che sáng, loại phân và liều lượng bón đến tỷ lệ sống, sinh trưởng và phẩm chất của cây con được triển khai tại Trung tâm thực hành và nghiên cứu Lâm nghiệp Hương Vân, Trường Đại học Nông Lâm, Đại học Huế. Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng cây con ba kích tím nuôi cấy mô được thuần dưỡng ở giai đoạn vườn ươm sử dụng công thức giá thể ruột bầu với 85% đất phù sa + 15% phân chuồng hoai mục, độ che sáng 50% và sử dụng phân hữu cơ vi sinh bón thúc với liều lượng 300 g/m<sup>2</sup> bầu, sau 6 tháng đạt chiều cao 22,40 ± 1,41 cm, đường kính gốc 1,90 ± 0,06 mm, số lá ≥ 11,46 ± 0,53 lá/cây, tỷ lệ sống 86,1% và 87,1% cây đạt tiêu chuẩn xuất vườn. Kết quả nghiên cứu này có ý nghĩa khoa học và thực tiễn trong việc thuần dưỡng cây giống nuôi cấy mô ở giai đoạn vườn ươm, góp phần tạo ra nguồn giống đủ phục vụ cho công tác trồng, phát triển bền vững cây ba kích.</p> Lê Thái Hùng Hồ Thanh Hà Phạm Cường Trần Minh Đức Huỳnh Kim Hiếu Bản quyền (c) 2022 Tạp chí Khoa học và công nghệ nông nghiệp Trường Đại học Nông Lâm Huế 2022-06-15 2022-06-15 6 2 3058 3066 10.46826/huaf-jasat.v6n2y2022.910 MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÁI, SINH HỌC VÀ SINH THÁI CỦA LOÀI HOÀNG LIÊN GAI (Berberis julianae C.K. Schneid) Ở VƯỜN QUỐC GIA HOÀNG LIÊN, LÀO CAI https://tapchi.huaf.edu.vn/index.php/id20194/article/view/934 <p>Hoàng liên gai <em>(Berberis julianae </em>C.K. Schneid) thuộc họ Berberidaceae là một loài cây thuốc có giá trị cao. Thân, rễ Hoàng liên gai chứa nhiều hợp chất alkaloid, trong đó chủ yếu là berberin. Loài này được ghi nhận có phân bố tự nhiên tại thị xã Sa Pa, tỉnh Lào Cai, đã và đang bị khai thác mạnh dẫn đến bị đe dọa nghiêm trọng trong tự nhiên, đã được đưa vào Sách đỏ Việt Nam, năm 2007 ở mức EN; Nhằm xây dựng cơ sở dữ liệu cho việc bảo tồn và sử dụng hợp lý loài Hoàng liên gai ở Việt Nam, bài báo này bổ sung một số đặc điểm sinh học và sinh thái của loài Hoàng liên gai. Kết quả nghiên cứu cho thấy Hoàng liên gai là loài cây bụi, có khả năng chống chịu sâu bệnh hại, chịu nhiệt tốt; xác định mật độ loài Hoàng liên gai là 365 - 380 cá thể/ha, sinh trưởng tốt ngoài tự nhiên ở độ cao 1.400 - 1.700m với giới hạn sinh thái (nhiệt độ, độ ẩm, ánh sáng,…) rất rộng.</p> Bùi Tuấn Anh Trần Văn Tú Ngô Thị Minh Trang Bản quyền (c) 2022 Tạp chí Khoa học và công nghệ nông nghiệp Trường Đại học Nông Lâm Huế 2022-06-15 2022-06-15 6 2 3067 3074 10.46826/huaf-jasat.v6n2y2022.934 ĐÁNH GIÁ PHẨM CHẤT HẠT GIỐNG VÀ KHẢ NĂNG NHÂN GIỐNG HỮU TÍNH LOÀI TÁU DUYÊN HẢI (Vatica mangachapoi Blanco subsp. obtosifolia (Elmer) P.S. Ashton) TẠI TỈNH THỪA THIÊN HUẾ https://tapchi.huaf.edu.vn/index.php/id20194/article/view/866 <p>Táu duyên hải (<em>Vatica mangachapoi</em>) là loài cây bản địa thuộc họ Dầu (Dipterocarpaceae) có phân bố trên vùng đất cát ven biển tỉnh Thừa Thiên Huế và có giá trị trong công tác phục hồi rừng ven biển của nước ta, tuy nhiên cho đến nay vẫn thiếu các công trình nghiên cứu về đặc điểm nguồn giống cũng như khả năng nhân giống và kỹ thuật gieo ươm. Nghiên cứu này được tiến hành nhằm đánh giá phẩm chất hạt giống, khả năng nhân giống từ hạt cũng như một số biện pháp kỹ thuật chăm sóc cây con ở giai đoạn vườn ươm. Kết quả nghiên cứu cho thấy Táu duyên hải mùa quả chín tập trung vào tháng 8 - 9 hằng năm. Quả chín có màu vàng lam, hình chóp cầu đường kính dài x rộng là 6,2 ± 0,1 mm x 5,9 ± 0,1 mm. Khối lượng 1000 quả đạt 156 ± 6 gam và 1 kg quả có khoảng 6.687 ± 400 hạt. Độ thuần thấp nhất là 88,30%, tỷ lệ hạt sống của lô hạt thuần là 96%, tỷ lệ hạt có phẩm chất tốt là 80,67%. Hạt Táu duyên hải nảy mầm từ 4 - 14 ngày sau xử lý. Thế nẩy mầm thấp nhất 77,78%, tỷ lệ nảy thấp nhất 89,00% sau khi thu hái từ 2 - 7 ngày và bảo quản ở nhiệt độ phòng 30 - 31<sup>0 </sup>C. Sử dụng che sáng 50% và giá thể ruột bầu là đất phù sa mới bồi tụ thì sau 6 tháng ươm giống, tỷ lệ sống thấp nhất 91,43%, chiều cao trung bình 22,5 cm, đường kính gốc trung bình 2,90 mm, có 11 lá là phù hợp nhất để ươm Táu duyên hải.</p> Nguyễn Hợi Lê Thái Hùng Hồ Đăng Nguyên Bản quyền (c) 2022 Tạp chí Khoa học và công nghệ nông nghiệp Trường Đại học Nông Lâm Huế 2022-06-15 2022-06-15 6 2 3075 3083 10.46826/huaf-jasat.v6n2y2022.866 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆC ÁP DỤNG CÁC BIỆN PHÁP QUẢN LÝ ĐẤT BỀN VỮNG Ở VÙNG CAO CỦA HUYỆN NAM ĐÔNG, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ https://tapchi.huaf.edu.vn/index.php/id20194/article/view/880 <p>Nghiên cứu này nhằm đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến việc áp dụng các biện pháp quản lý đất bền vững (QLĐBV) của nông hộ ở vùng cao huyện Nam Đông, tỉnh Thừa Thiên Huế. Dữ liệu sơ cấp được thu thập từ phỏng vấn 150 nông hộ bằng bảng hỏi bán cấu trúc. Mô hình logit nhị thức được áp dụng để phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến việc áp dụng các biện pháp QLĐBV của nông hộ ở vùng nghiên cứu. Kết quả cho thấy trình độ văn hóa của chủ hộ, mức độ kiến thức của nông hộ về các biện pháp QLĐBV, sự tham gia của nông hộ vào các khóa đào tạo liên quan đến QLĐBV, lợi ích kinh tế và mức độ dễ áp dụng của các biện pháp QLĐBV và khoảng cách từ nhà đến nương rẫy là những nhân tố ảnh hưởng ý nghĩa đến khả năng áp dụng các biện pháp xen canh, luân canh và che tủ đất của nông hộ ở vùng nghiên cứu. Nâng cao kiến ​​thức của nông hộ về các biện pháp QLĐBV, và thúc đẩy họ tham gia các khóa đào tạo lên quan đến lĩnh vực này sẽ cải thiện mức độ áp dụng các biện pháp QLĐBV ở vùng nghiên cứu.</p> Nguyễn Văn Thành Trương Thị Hằng Trần Thị Ánh Nguyệt Nguyễn Trọng Dũng Bản quyền (c) 2022 Tạp chí Khoa học và công nghệ nông nghiệp Trường Đại học Nông Lâm Huế 2022-06-15 2022-06-15 6 2 3084 3092 10.46826/huaf-jasat.v6n2y2022.880 ẢNH HƯỞNG CỦA ĐỊA HÌNH, ĐỊA MẠO ĐẾN MƯA VÀ LŨ LỤT Ở LƯU VỰC SÔNG LẠI GIANG, TỈNH BÌNH ĐỊNH https://tapchi.huaf.edu.vn/index.php/id20194/article/view/889 <p>Lũ lụt là thiên tai xuất hiện nhiều nhất (3 - 4 trận/năm) và gây hậu quả nặng nề nhất trên lưu vực sông (LVS) Lại Giang. Mưa nhiều và lũ lụt ở đây có sự ảnh hưởng rất lớn của địa hình và hình thái LVS. Bài báo nhằm giới thiệu phương pháp Synop để làm rõ các khối khí và các hình thế thời tiết gây mưa lớn, trong đó không khí lạnh chiếm &gt;33%; Sử dụng phương pháp địa lí hình thái và GIS xác định địa hình của LVS có hướng thấp dần từ hướng Tây qua hướng Đông, ở phía Tây của LVS có dãy núi Nam Trường Sơn phân bố chạy theo hướng Bắc - Nam với độ cao 500 - 70 m và dãy núi Bình Đê có hướng chạy ngang ra biển làm cho các khối khí ẩm mùa đông từ biển thuận lợi đi sâu vào LVS khi gặp bức chắn địa hình từ dãy núi này gây ra mưa lớn. Ngoài ra, LVS Lại Giang có độ dốc ở thượng lưu khá lớn (13,9<sup>o</sup>), hình dáng LVS mở rộng ở vùng thượng lưu và trung lưu nhưng lại thu hẹp vùng hạ lưu. Điều này đã làm cho quá trình tập trung lũ nhanh, thời gian truyền lũ ngắn (từ 6 - 8 tiếng), vùng ngập lụt ở hạ lưu bị ảnh hưởng rất rộng với thời gian ngập trung bình 3 - 5 ngày.</p> Phan Thái Lê Ngô Anh Tú Huỳnh Xuân Tân Lê Chiêu Tâm Bản quyền (c) 2022 Tạp chí Khoa học và công nghệ nông nghiệp Trường Đại học Nông Lâm Huế 2022-06-15 2022-06-15 6 2 3093 3106 10.46826/huaf-jasat.v6n2y2022.889 ĐÁNH GIÁ TÍNH BỀN VỮNG CỦA CÁC MÔ HÌNH SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP THEO HƯỚNG THÔNG MINH VỚI KHÍ HẬU TẠI HUYỆN PHÚ VANG, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ https://tapchi.huaf.edu.vn/index.php/id20194/article/view/949 <p>Nghiên cứu và lựa chọn các mô hình nông nghiệp theo hướng thông minh với khí hậu (Climate smart - Oriented agricultural practices: CSA) là hết sức quan trọng và cần thiết để hỗ trợ nông dân sản xuất nhỏ cũng như chính quyền địa phương ứng phó tốt hơn với biến đổi khí hậu (BĐKH) đồng thời đảm bảo an ninh lương thực bền vững. Các phương pháp sử dụng để thu thập số liệu trong nghiên cứu bao gồm: phỏng vấn sâu (n = 6), thảo luận nhóm tập trung (1 nhóm) và phỏng vấn hộ sử dụng bảng hỏi bán cấu trúc (n = 60). Phương pháp để xác định mô hình theo hướng CSA căn cứ kết quả tham vấn và thảo luận nhóm dựa vào 04 tiêu chí: thích ứng với BĐKH, giảm thiểu BĐKH, an ninh lương thực, và phù hợp với năng lực nông hộ. Nghiên cứu áp dụng phương pháp đánh giá đa tiêu chí để đánh giá tính bền vững của các mô hình theo hướng CSA. Kết quả nghiên cứu đã xác định được 11 mô hình nông nghiệp theo hướng CSA và mỗi mô hình được phân tích đặc điểm theo 04 nhóm tiêu chí của CSA. Nghiên cứu đã tổng hợp theo 7 nhóm mô hình nông nghiệp chính để đánh giá tính bền vững. Kết quả đánh giá tính bền vững của 7 nhóm mô hình cho thấy các nhóm mô hình này đều bền vững cao, trong đó nhóm mô hình xử lý rơm rạ sau thu hoạch và nhóm mô hình chăn nuôi sử dụng đệm lót là bền vững nhất.</p> Lê Thị Hồng Phương Bản quyền (c) 2022 Tạp chí Khoa học và công nghệ nông nghiệp Trường Đại học Nông Lâm Huế 2022-06-15 2022-06-15 6 2 3107 3118 10.46826/huaf-jasat.v6n2y2022.949