https://tapchi.huaf.edu.vn/index.php/id20194/issue/feed Tạp chí Khoa học và công nghệ nông nghiệp Trường Đại học Nông Lâm Huế 2022-12-05T15:18:12+07:00 Ban biên tập Tạp chí tapchidhnl@huaf.edu.vn Open Journal Systems <p>Tóm tắt tạp chí</p> https://tapchi.huaf.edu.vn/index.php/id20194/article/view/876 ẢNH HƯỞNG CỦA MÔI TRƯỜNG NUÔI BIOFLOC LÊN SINH TRƯỞNG VÀ HOẠT TÍNH ENZYME TIÊU HÓA CỦA TÔM THẺ CHÂN TRẮNG (Litopenaeus vannamei) GIAI ĐOẠN ƯƠNG GIỐNG 2021-10-29T07:06:52+07:00 Linh Võ Thị 18L3081173@huaf.edu.vn Sương Le Thị Thu nguyentuminh@huaf.edu.vn Dưỡng Trần Đăng nguyentuminh@huaf.edu.vn Niệm Phạm Thị Ái nguyentuminh@huaf.edu.vn Vỳ Huỳnh Văn nguyentuminh@huaf.edu.vn Huy Nguyễn Văn nguyenvanhuy@huaf.edu.vn Minh Nguyễn Tử nguyentuminh@huaf.edu.vn <p>Nghiên cứu được thực hiện tại Phòng thí nghiệm Wet Lab, Khoa Thủy sản, Trường Đại học Nông Lâm, Đại học Huế nhằm đánh giá khả năng sinh trưởng và hoạt tính enzyme tiêu hóa của tôm thẻ chân trắng <em>Litopenaeus vannamei</em> ương nuôi trong môi trường biofloc với mật độ cao đạt 5.000 con/m<sup>3</sup>. Tôm giống PL<sub>10</sub> được bố trí theo 2 nghiệm thức môi trường ương nuôi khác nhau gồm (i) không có biofloc (ii) có biofloc trong bể ương thể tích 1 m<sup>3</sup> với nguồn nước biển có độ mặn 15‰ và thời gian ương nuôi thí nghiệm trong 30 ngày. Nguồn carbohydrate từ rỉ đường được sử dụng để tạo và duy trì biofloc với tỉ lệ C/N = 15. Kết quả nghiên cứu cho thấy biofloc có tác động tăng cường hoạt tính của enzyme tiêu hóa bao gồm amylase và cellulase ở tôm ương nuôi. Nghiệm thức ương nuôi theo công nghệ biofloc tôm đạt giá trị cao hơn về chiều dài (47,20 ± 1,52 mm/con), trọng lượng (0,71 ± 0,08 g/con), tổng số tế bào máu (7,29 ± 0,15 x 10<sup>6</sup> tế bào/mL) và tỷ lệ sống (85,61 ± 0,61%) so với nghiệm thức ương nuôi không biofloc với các giá trị tương ứng lần lượt là 40,64 ± 2,62 mm/con, 0,52 ± 0,05 g/con, 6,12 ± 0,51 x 10<sup>6</sup> tế bào/mL, 73,54 ± 0,65% (p &lt; 0,05) Tôm sau ương nuôi trong môi trường biofloc có khả năng chống chịu stress do biến động môi trường về yếu tố pH, nhiệt độ và độ mặn tốt hơn so với nghiệm thức đối chứng. Kết quả nghiên cứu cho thấy tính khả thi trong ương nuôi tôm thẻ chân trắng với mật độ cao trong môi trường biofloc đáp ứng nhu cầu phát triển đối tượng nuôi này hiện nay.</p> 2022-12-05T00:00:00+07:00 Bản quyền (c) 2022 Tạp chí Khoa học và công nghệ nông nghiệp Trường Đại học Nông Lâm Huế https://tapchi.huaf.edu.vn/index.php/id20194/article/view/995 CHẤT LƯỢNG NƯỚC VÀ TĂNG TRƯỞNG TÔM THẺ CHÂN TRẮNG (Litopenaeus vannamei) NUÔI TRONG HỆ THỐNG TUẦN HOÀN NƯỚC QUI MÔ SẢN XUẤT 2022-09-07T10:32:44+07:00 Nhứt Nguyễn nhut300676@yahoo.com Hoàng Trần Trọng nhut300676@yahoo.com Huy Trần Trọng nhut300676@yahoo.com Hoàng Phạm Vương Kim Phượng nhut300676@yahoo.com <p>Mục đích của nghiên cứu này là đánh giá các chỉ tiêu về chất lượng nước và tăng trưởng của tôm thẻ chân trắng (<em>L. vannamei</em>) nuôi bằng công nghệ tuần hoàn nước (RAS) với qui mô sản xuất theo mô hình 03 giai đoạn. Chu kỳ nuôi tôm được chia thành 03 giai đoạn nuôi, mỗi giai đoạn nuôi là 30 ngày (giai đoạn 1: 1-30 ngày; giai đoạn 2: 30-60 ngày và giai đoạn 3: 60-90 ngày). Mỗi giai đoạn nuôi tôm đều ứng dụng công nghệ tuần hoàn nước (RAS) được thiết kế cơ bản bao gồm 01 bể nuôi/ương, 01 trống lọc thải rắn, 01 lọc sinh học và 01 máy bơm tuần hoàn. Kết quả cho thấy 14 chỉ tiêu về chất lượng nước được đánh giá đạt tối ưu cho tăng trưởng tôm trong điều kiện hạn chế thay nước. Tốc độ tăng trưởng của các giai đoạn nuôi là RAS giai đoạn 1 (0,1g/ngày), RAS giai đoạn 2 (0,4g/ngày), RAS giai đoạn 3 (0,4g/ngày). Tỷ lệ sống của tôm ở các giai đoạn nuôi của RAS giai đoạn 1, RAS giai đoạn 2 và RAS giai đoạn 3 tương ứng là 95,4%, 89,7% và 84,4%. Năng suất tôm nuôi của các giai đoạn nuôi RAS giai đoạn 1, RAS giai đoạn 2 và RAS giai đoạn 3 tương ứng là 1,57 kg tôm/m<sup>2</sup>, 6,1kg tôm/m<sup>2</sup> và 5,7 kg tôm/m<sup>2</sup>. Hệ số chuyển đổi thức ăn (FCR) của RAS giai đoạn 1, RAS giai đoạn 2 và RAS giai đoạn 3 tương ứng là 1,0, 0,9 và 1,1. Vì thế, công nghệ RAS có thể được suy xét để ứng dụng đại trà cho nuôi tôm thẻ chân trắng bền vững tại Việt Nam.</p> 2022-12-05T00:00:00+07:00 Bản quyền (c) 2022 Tạp chí Khoa học và công nghệ nông nghiệp Trường Đại học Nông Lâm Huế https://tapchi.huaf.edu.vn/index.php/id20194/article/view/922 HIỆN TRẠNG PHÂN BỐ CỦA CÁ CHÌNH HOA (Anguilla marmorata Quoy & Gaimard, 1824) TẠI THỪA THIÊN HUẾ, VIỆT NAM 2021-12-30T16:04:43+07:00 Huyền Kiều Thị kieuthihuyen@huaf.edu.vn Đàn Trương Văn truongvandan@huaf.edu.vn Thắng Hà Nam hanamthang@huaf.edu.vn Linh Nguyễn Quang nguyenquanglinh@hueuni.edu.vn <p>Cá chình hoa (<em>Anguilla marmorata</em> Quoy &amp; Gaimard, 1824) là loài có vùng phân bố rộng và giá trị kinh tế cao. Thông tin về hiện trạng phân bố của cá chình hoa theo thời gian và không gian đã được thu thập tại 2 cửa biển, 1 đầm phá và 4 hệ thống sông chính ở Thừa Thiên Huế trong thời gian từ 11/2018 - 11/2019. Kết quả cho thấy cá chình hoa có chiều dài toàn thân (TL) từ 120 đến 1.137 mm phân bố quanh năm trên tất cả các thủy vực có dòng chảy hướng về phía Đông. Theo thời gian, sự phân bố của cá chình hoa được chia thành hai mùa rõ rệt gắn liền với đặc điểm di cư của loài. Mùa khô từ tháng 1 – tháng 7, tương ứng với sự xuất hiện của cá con (TL &lt; 200 mm) từ biển di cư vào vùng nội địa, và mùa mưa từ tháng 8 – tháng 12, tương ứng với mùa di cư sinh sản của cá trưởng thành. Theo không gian, tại vùng trung và thượng lưu có sự phân bố quanh năm của cá chình hoa ở giai đoạn sinh trưởng. Vùng hạ lưu có sự phân bố chủ yếu của cá chình hoa ở các giai đoạn di cư theo mùa. Kết quả nghiên cứu đã cung cấp cơ sở cho việc xây dựng các chiến lược khai thác và bảo tồn nguồn lợi ở Thừa Thiên Huế và Việt Nam.</p> 2022-12-05T00:00:00+07:00 Bản quyền (c) 2022 Tạp chí Khoa học và công nghệ nông nghiệp Trường Đại học Nông Lâm Huế https://tapchi.huaf.edu.vn/index.php/id20194/article/view/944 ẢNH HƯỞNG CỦA THỜI ĐIỂM THU CẮT ĐẾN NĂNG SUẤT, THÀNH PHẦN HÓA HỌC CỦA CÂY HƯỚNG DƯƠNG (Helianthus annus) LÀM THỨC ĂN CHO GIA SÚC NHAI LẠI 2021-12-29T11:14:20+07:00 Văn Nguyễn Hữu nguyenhuuvan@huaf.edu.vn Quân Nguyễn Hải nguyenhaiquan@huaf.edu.vn Thuỷ Nguyễn Thanh nguyenthanhthuy@huaf.edu.vn Tâm Võ Thị Minh vothiminhtam@huaf.edu.vn Thạo Lê Đức leducthao@huaf.edu.vn Đức Nguyễn Văn nguyenvanduc@huaf.edu.vn Ngoan Lê Đức le.ngoan@huaf.edu.vn <p>Nghiên cứu này nhằm đánh giá ảnh hưởng của thời điểm thu cắt đến năng suất, thành phần hoá học và giá trị dinh dưỡng của cây hướng dương làm thức ăn cho gia súc nhai lại. Thí nghiệm đã được tiến hành tại Trại thực nghiệm Tứ Hạ, Trường Đại học Nông Lâm, Đại học Huế. Cây hướng dương Aguara 6 được trồng trên diện tích 1300 m<sup>2</sup> với mật độ 66.000 cây/ha và được thu cắt tại hai thời điểm ra hoa (75 ngày sau khi gieo) và kết hạt (85 ngày sau khi gieo) để xác định năng suất cả cây và các bộ phận (thân, lá và hoa), thành phần hóa học và giá trị năng lượng. Kết quả cho thấy năng suất sinh khối và protein thô tại thời điểm kết hạt cao hơn có ý nghĩa thống kê so với thời điểm ra hoa (tương ứng 62,0 và 52,5 tấn tươi/ha/lứa cắt; và 1,13 và 0,96 tấn protein thô/ha/lứa cắt). Ngoại trừ protein thô, các thành phần khác như vật chất khô, xơ không bị rửa trôi bởi chất tẩy trung tính, chất béo, và giá trị năng lượng tiêu hoá, năng lượng trao đổi của cây hướng dương thu cắt tại thời kỳ kết hạt cao đều hơn khi cây ra hoa. Vì vậy, cây hướng dương Aguara 6 được xem là cây thức ăn tiềm năng cho gia súc nhai lại và nên thu hoạch tại thời kỳ kết hạt.</p> 2022-12-05T00:00:00+07:00 Bản quyền (c) 2022 Tạp chí Khoa học và công nghệ nông nghiệp Trường Đại học Nông Lâm Huế https://tapchi.huaf.edu.vn/index.php/id20194/article/view/920 NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM BỆNH LÝ Ở CHÓ MẮC BỆNH GIẢM BẠCH CẦU DO EHRLICHIA GÂY RA TẠI THÀNH PHỐ HUẾ 2022-07-08T09:47:46+07:00 Khương Nguyễn Đinh Thùy nguyendinhthuykhuong@huaf.edu.vn Dung Hồ Thị hothidung@huaf.edu.vn Hoa Nguyễn Thị nguyendinhthuykhuong@huaf.edu.vn Hải Vũ Văn vuvanhai@huaf.edu.vn <p>Nghiên cứu được thực hiện nhằm xác định một số đặc điểm bệnh lý của chó mắc bệnh giảm bạch cầu do <em>Ehrlichia</em> <em>canis (E. canis)</em>. Xác định các biến đổi bệnh lý bệnh do <em>E. canis</em> trên chó được tiến hành bằng phương pháp nghiên cứu cắt ngang trên 305 con chó. Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ nhiễm <em>E. canis</em> là 37,70% trong tổng số 305 chó được mang đến khám và điều trị tại Trung tâm thú y Okada – Pet và Phòng khám thú y Tuấn Ngọc. Chó mắc <em>E. canis </em>có các dấu hiệu lâm sàng phổ biến như niêm mạc nhợt nhạt (60%); có ve ký sinh, sốt và liệt chân sau (58,26%); bỏ ăn (55,65%); yếu hai chân sau, thể trạng gầy yếu, rụng lông quanh mắt (53,04%); xuất huyết mũi, tiêu chảy (49,57%); ho khạc, ít ăn (48,7%); ghèn mắt, đục mắt (47,83%); nôn mửa (45,22%), xuất huyết da bụng (44,35%). <em>E. canis</em> được tìm thấy trong bạch cầu đơn nhân khi soi máu chiếm tỷ lệ 80%, trong bạch cầu đa nhân trung tính (34,29%) và đồng thời ở bạch cầu đơn nhân và bạch cầu đa nhân trung tính (20%). Hiện tượng thâm nhiễm tế bào viêm được quan sát thấy quanh thành mạch ở các cơ quan: phổi, gan, lách của chó mắc bệnh.</p> 2022-12-05T00:00:00+07:00 Bản quyền (c) 2022 Tạp chí Khoa học và công nghệ nông nghiệp Trường Đại học Nông Lâm Huế https://tapchi.huaf.edu.vn/index.php/id20194/article/view/948 TUYỂN CHỌN VÀ ĐỊNH DANH VI KHUẨN HÒA TAN LÂN NỘI SINH TỪ CÂY KHÓM TRỒNG TRÊN ĐẤT PHÈN TẠI THÀNH PHỐ VỊ THANH, TỈNH HẬU GIANG 2022-04-20T15:55:57+07:00 Khương Nguyễn Quốc nqkhuong@ctu.edu.vn Tường Ngô Vĩnh lvthuc@ctu.edu.vn Trường Cao Minh lvthuc@ctu.edu.vn Quí Cù Ngọc lvthuc@ctu.edu.vn Nhân Trần Chí lvthuc@ctu.edu.vn Xuân Lý Ngọc Thanh lvthuc@ctu.edu.vn Thu Lê Thị Mỹ lvthuc@ctu.edu.vn Hữu Trần Ngọc lvthuc@ctu.edu.vn Thúc Lê Vĩnh lvthuc@ctu.edu.vn <p>Mục tiêu nghiên cứu nhằm tìm ra dòng vi khuẩn nội sinh có khả năng hòa tan lân khó tan trên đất phèn canh tác khóm tại xã Hỏa Tiến và Tân Tiến, thành phố Vị Thanh, tỉnh Hậu Giang. Từ 42 dòng vi khuẩn hòa tan lân được phân lập từ rễ và thân cây khóm trên môi trường LGI (Liquid Glucose Ivo) và NFB (Nitrogen Fixing Bacteria) tuyển chọn được 20 dòng vi khuẩn có khả năng hòa tan lân trong điều kiện pH 4,50 và chứa độc chất Al<sup>3+</sup> và Fe<sup>2+</sup> ở nồng độ lần lượt là 100 và 300 mg kg<sup>-1</sup>. Trong đó, dòng vi khuẩn L-VT08c và L-VT09 có khả năng hòa tan lân sắt, lân nhôm và lân canxi tốt nhất trên môi trường LGI với hàm lượng hòa tan lân lần lượt là 13,6; 26,2; 26,1 mg P L<sup>-1</sup> và 16,2; 25,5; 19,7 mg P L<sup>-1</sup> và dòng vi khuẩn N-VT06 trên môi trường NFB với hàm lượng 34,5; 6,40 và 60,0 mg P L<sup>-1</sup>, theo cùng thứ tự. Hai dòng vi khuẩn L-VT09 và N-VT06 được định danh bằng kỹ thuật 16S rDNA là <em>Burkholderia silvatlantica</em> với tỷ lệ tương đồng là 100%.</p> 2022-12-05T00:00:00+07:00 Bản quyền (c) 2022 Tạp chí Khoa học và công nghệ nông nghiệp Trường Đại học Nông Lâm Huế https://tapchi.huaf.edu.vn/index.php/id20194/article/view/894 NGHIÊN CỨU SỬ DỤNG CÂY LỤC BÌNH (Eichhornia crassipes (Mart) Solms) LÀM GIÁ THỂ TRỒNG NẤM SÒ TRẮNG (Pleurotus pulmonarius (Fr.) Quél.) TẠI THỪA THIÊN HUẾ 2021-11-26T09:13:56+07:00 Hường Lê Thị Thu lethithuhuong@huaf.edu.vn Hà Trần Thị Thu lethithuhuong@huaf.edu.vn Hà Lê Thị lethithuhuong@huaf.edu.vn <p>Nghiên cứu được thực hiện nhằm xác định tỷ lệ cây Lục bình bổ sung vào giá thể mùn cưa cao su để trồng nấm sò trắng đảm bảo năng suất và an toàn cho người sử dụng vừa tận dụng nguồn nguyên liệu cây lục bình đang phát triển mạnh và rất khó kiểm soát tại Thừa Thiên Huế vừa cải tạo môi trường. Thí nghiệm được bố trí theo phương pháp khối hoàn toàn ngẫu nhiên (RCB) gồm 5 công thức và 3 lần nhắc lại, mỗi công thức với số lượng 15 bịch, tổng số bịch là 75. Kết quả thí nghiệm cho thấy để vừa giải quyết vấn đề môi trường vừa đem lại thu nhập cho người dân có thể sử dụng công thức II với tỷ lệ phối trộn: 25% cây lục bình + 64% mùn cưa + 5% cám gạo + 5% bột ngô + 1% CaCO­<sub>3</sub> để trồng nấm sò vì thời gian sinh trưởng và phát triển được rút ngắn 53,2 ngày, năng suất đạt 36,44% so với nguyên liệu khô và hiệu quả kinh tế đạt 4,547 triệu đồng/ 1 tấn nguyên liệu cao hơn so với các công thức có tỷ lệ phối trộn cây lục bình khác. Hàm lượng kim loại nặng trong nguyên liệu cây lục bình và trong quả thể nấm sò đều nằm trong ngưỡng an toàn cho phép sử dụng.</p> 2022-12-05T00:00:00+07:00 Bản quyền (c) 2022 Tạp chí Khoa học và công nghệ nông nghiệp Trường Đại học Nông Lâm Huế https://tapchi.huaf.edu.vn/index.php/id20194/article/view/942 NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA LIỀU LƯỢNG ĐẠM VÀ KALI ĐẾN CÂY NGHỆ VÀNG (CURCUMA LONGA L.) TẠI TỈNH THỪA THIÊN HUẾ 2021-12-17T15:09:23+07:00 Đông Trần Phương tranphuongdong@huaf.edu.vn Phương Trần Thị Xuân tranthixuanphuong@huaf.edu.vn Giang Nguyễn Thị tranphuongdong@huaf.edu.vn Hạnh Trần Xuân tranphuongdong@huaf.edu.vn <p>Tại Thừa Thiên Huế, cây nghệ vàng chủ yếu được trồng nhỏ lẻ tại các nông hộ để tự cung tự cấp. Do diện tích trồng rất ít nên cây nghệ vàng chưa trở thành hàng hóa có giá trị cung ứng cho thị trường. Ngoài ra, sản xuất nghệ vàng trên địa bàn theo tập quán truyền thống, chưa khai thác hết tiềm năng năng suất và hiệu quả kinh tế. Nghiên cứu này bao gồm tổ hợp các lượng đạm và kali như sau: 170 kg N + 100 kg K<sub>2</sub>O; 200 kg N + 150 kg K<sub>2</sub>O và 230 kg N + 200 kg K<sub>2</sub>O. Đánh giá các chỉ tiêu sinh trưởng, phát triển, phẩm chất, năng suất, hiệu quả kinh tế của cây nghệ vàng đã được thực hiện. Kết quả nghiên cứu đã xác định được liều lượng bón đạm và kali thích hợp cho 01 ha cây nghệ vàng là 200 kg N + 150 kg K<sub>2</sub>O trên nền phân bón 2 tấn phân hữu cơ vi sinh + 500 kg vôi + 120 kg P<sub>2</sub>O<sub>5. </sub>Bón với liều lượng bón này, cây nghệ vàng có các chỉ tiêu sinh trưởng, phát triển và chất lượng đảm bảo. Năng suất thực thu và hiệu quả kinh tế của nghệ đạt cao nhất tương ứng: 42,8 tấn/ha và 273,4 triệu đồng/ha.</p> 2022-12-05T00:00:00+07:00 Bản quyền (c) 2022 Tạp chí Khoa học và công nghệ nông nghiệp Trường Đại học Nông Lâm Huế https://tapchi.huaf.edu.vn/index.php/id20194/article/view/959 HIỆU QUẢ CỦA BIOCHAR TRONG CANH TÁC LÚA Ở THỪA THIÊN HUẾ 2022-05-19T16:32:27+07:00 Phương Tran Thi Xuan tranthixuanphuong@huaf.edu.vn Giang Nguyễn Thị tranthixuanphuong@huaf.edu.vn Nghĩa Hoàng Trọng tranthixuanphuong@huaf.edu.vn Hạnh Trần Đức tranthixuanphuong@huaf.edu.vn Phương Phạm Xuân tranthixuanphuong@huaf.edu.vn Ngọc Nguyễn Thị tranthixuanphuong@huaf.edu.vn Cường Đỗ Minh tranthixuanphuong@huaf.edu.vn Sinh Trần Lâm tranthixuanphuong@huaf.edu.vn <p>Nghiên cứu được thực hiện trong vụ Đông Xuân 2020 - 2021 và Hè Thu 2021 trên đất phù sa tại huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế nhằm đánh giá hiệu quả của mô hình ứng dụng than sinh học (biochar) trong canh tác lúa. Kết quả cho thấy: Mô hình sử dụng biochar (2,5 tấn) tạo ra từ nguồn nguyên liệu rơm và trấu trên nền phân bón 100 kg N + 65 kg P<sub>2</sub>O<sub>5</sub> + 70 kg K<sub>2</sub>O + 500 kg vôi có ảnh hưởng tốt đến sinh trưởng, phát triển và năng suất giống lúa HT1 so với mô hình đối chứng bón 110 kg N + 70 kg P<sub>2</sub>O<sub>5</sub> + 75 kg K<sub>2</sub>O + 500 kg vôi. Bón biochar giúp rút ngắn thời gian sinh trưởng của cây lúa từ 1 - 2 ngày và tăng năng suất lúa từ 1,0 - 1,1 tấn/ha. Đối tượng sâu bệnh hại chính là bệnh đốm nâu và sâu cuốn lá nhỏ (điểm 3). Mật độ sâu cuốn lá nhỏ ở mô hình biochar trong 2 vụ thấp hơn so với mô hình đối chứng. Hơn nữa, sử dụng biochar trong canh tác lúa đã mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn so với việc chỉ bón phân theo truyền thống của người dân 6,0 - 7,3 triệu đồng/ha và góp phần cải thiện một số tính chất hóa tính và sinh học của đất đặc biệt là mô hình biochar.</p> 2022-12-05T00:00:00+07:00 Bản quyền (c) 2022 Tạp chí Khoa học và công nghệ nông nghiệp Trường Đại học Nông Lâm Huế https://tapchi.huaf.edu.vn/index.php/id20194/article/view/987 KẾT QUẢ THU THẬP NGUỒN GEN CÂY TRỒNG TẠI CÁC TỈNH ĐẮK NÔNG, BÌNH PHƯỚC, GIA LAI VÀ THANH HÓA 2022-10-03T14:36:26+07:00 Nga Hoàng Thị hoangthingaprc@gmail.com Hoài Trần Thị Thu hoaitranchau@gmail.com Loan Lê Thị ltloan27@gmail.com Hạnh Đới Hồng doihonghanh@gmail.com Thủy Nguyễn Thị Bích giangthuycp@gmail.com Mạnh Bùi Văn vanmanhk13@gmail.com Kiên Nguyễn Văn KIENNGUYENVAN8@gmail.com <p>Việt Nam là nước có điều kiện tự nhiên đa dạng với nhiều thành phần dân tộc sinh sống khác nhau từ Bắc vào Nam. Điều này đã tạo cho chúng ta một hệ sinh thái vô cùng phong phú với nhiều giống cây trồng khác nhau có giá trị cao. Trung tâm Tài nguyên thực vật đã tiến hành thu thập nguồn gen cây trồng ở 8 huyện gồm Đắk R’Lấp, Đắk G’Long (tỉnh Đắk Nông), huyện Bù Gia Mập, Bù Đốp, Bù Đăng (tỉnh Bình Phước), huyện Mang Yang, Chư Păh (tỉnh Gia Lai) và huyện Quan Hóa (tỉnh Thanh Hóa). Đây là các địa điểm có sự đa dạng về nguồn gen cây trồng khá đặc trưng. Kết quả thu được 446 nguồn gen của 47 loài cây trồng thuộc 4 nhóm cây trồng chính gồm nhóm hòa thảo, đậu vừng, cây rau gia vị và cây có củ. Trong các nhóm cây trồng, nhóm cây rau gia vị có sự đa dạng nhất với 20 loài, tiếp đến là nhóm đậu vừng 14 loài được thu thập. Huyện Quan Hóa, tỉnh Thanh Hóa thu thập được nhiều nhất với 115 nguồn gen, tiếp đến là huyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai với 80 nguồn gen, huyện Bù Gia Mập tỉnh Bình Phước thu được ít nhất với 27 nguồn gen. Đã giới thiệu được 17 nguồn gen quý có tiềm năng cho khai thác và phát triển nguồn gen nhằm bảo tồn phát triển bền vững nguồn gen cây trồng và phục vụ nhu cầu phát triển kinh tế tại địa phương.</p> 2022-12-05T00:00:00+07:00 Bản quyền (c) 2022 Tạp chí Khoa học và công nghệ nông nghiệp Trường Đại học Nông Lâm Huế https://tapchi.huaf.edu.vn/index.php/id20194/article/view/927 NGHIÊN CỨU VÀ ĐỀ XUẤT BỘ TIÊU CHÍ “LÀNG THÔNG MINH – XÃ KẾT NỐI” PHÙ HỢP VỚI TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ XÃ NÔNG THÔN MỚI 2022-06-27T09:26:03+07:00 Hạnh Hoàng Hữu hhhanh@gmail.com Hoàng Lê Anh hoangla@htxnongnghiepso.com Tĩnh Nguyễn Đình hhhanh@ptit.edu.vn <p>“Làng thông minh – Xã Kết Nối” (LTM – XKN) là một mô hình chuyển đổi số ở khu vực nông thôn với cấp tác động là làng, xã kết hợp với các thành phần cấu thành của Nông thôn mới (NTM). Giai đoạn 2021 – 2025, Chính phủ đặt ra mục tiêu chương trình NTM phải gia tăng về số lượng và chất lượng các xã NTM thông qua ban hành quyết định điều chỉnh, bổ sung tiêu chí NTM, các mô hình NTM nâng cao, NTM kiểu mẫu. Trong đó đề ra một số chỉ tiêu định hướng chuyển đổi số NTM lồng ghép vào các tiêu chí. Trên cơ sở tham khảo các tiêu chí đánh giá xã NTM ở giai đoạn mới, phân tích các bộ tiêu chí đánh giá làng thông minh (LTM) trên thế giới, nhóm nghiên cứu đề xuất bộ tiêu chí LTM – XKN gồm 5 nhóm tiêu chí với 19 tiêu chí và 36 chỉ số cụ thể. Đồng thời đánh giá sự phù hợp, khả thi của bộ tiêu chí so với thực tiễn triển khai NTM tại Việt Nam thông qua khảo sát hiện trạng đáp ứng một số xã đạt chuẩn NTM và kết quả triển khai mô hình LTM – XKN tại xã Phong Hòa, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế.</p> 2022-12-05T00:00:00+07:00 Bản quyền (c) 2022 Tạp chí Khoa học và công nghệ nông nghiệp Trường Đại học Nông Lâm Huế https://tapchi.huaf.edu.vn/index.php/id20194/article/view/916 NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA NỒNG ĐỘ HAI CHẤT ĐIỀU HÒA SINH TRƯỞNG (IBA VÀ NAA) ĐẾN GIÂM HOM CHÈ VẰNG (Jasminum subtriplinerve Blume) TẠI THỪA THIÊN HUẾ 2021-12-23T10:35:25+07:00 Thanh Châu Thị chauthithanh@huaf.edu.vn Ái Đỗ Thị Thu dothithuai@huaf.edu.vn Hiếu Huỳnh Kim chauthithanh@huaf.edu.vn <p>Nghiên cứu được tiến hành trên hai chất điều hòa sinh trưởng IBA và NAA với các nồng độ khác nhau nhằm đánh giá hiệu quả giâm hom cành chè vằng ở vườn ươm, tại Trung tâm thực hành Lâm nghiệp, trường Đại học Nông Lâm, Đại học Huế; từ ngày 30/7/2021 đến 30/10/2021. Thí nghiệm được bố trí theo phương pháp khối hoàn toàn ngẫu nhiên (RDCB). Các hom cành được xử lý bằng IBA hoặc NAA ở bốn mức nồng độ khác nhau (250, 500, 750 và 1000 ppm) sau khi xử lý bằng dung dịch Benlate 0,5%, trong khi các công thức đối chứng chỉ được xử lý bằng dung dịch Benlate 0,5% và có 3 lần nhắc lại. Kết quả nghiên cứu cho thấy, các chất điều hòa sinh trưởng có ảnh hưởng đến các chỉ tiêu theo dõi ở các mức nồng độ khác nhau là không giống nhau, kết quả tốt nhất lần lượt thuộc về 1000 ppm IBA và 750 ppm NAA đối với cả phần chồi và phần rễ của hom. Ở các nồng độ này, phần chồi sau 90 ngày theo dõi cho thấy, tỷ lệ sống đạt 84,44% và 82,22%, tỷ lệ ra chồi đạt 94,357% và 98,57% so với tổng hom sống, số chồi trung bình trên mỗi hom là 2,64 và 3,09, chiều dài chồi dài nhất trên mỗi hom đạt 9,60 và 9,62, tổng số lá trung bình trên mỗi hom đạt 11,78 và 12,07. Đối với đặc tính của rễ sau 90 ngày theo dõi bao gồm, tỷ lệ ra rễ bằng tỷ lệ sống, số rễ trung bình trên mỗi hom đạt 8,39 và 8,19, chiều dài rễ trung bình trên mỗi hom đạt 6,32 và 6,80, chỉ số ra rễ đạt 53,60 và 55,61.</p> 2022-12-05T00:00:00+07:00 Bản quyền (c) 2022 Tạp chí Khoa học và công nghệ nông nghiệp Trường Đại học Nông Lâm Huế https://tapchi.huaf.edu.vn/index.php/id20194/article/view/957 PHÂN TÍCH DỮ LIỆU KHÔNG GIAN ĐỂ XÁC ĐỊNH CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN BIẾN ĐỘNG VÀ PHÂN MẢNH RỪNG TỰ NHIÊN Ở HUYỆN NAM ĐÔNG, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ 2022-06-15T08:50:10+07:00 Lợi Nguyễn Văn nguyenvanloi@huaf.edu.vn Thành Dương Văn duongvanthanh@huaf.edu.vn Nguyên Hồ Đăng nguyenvanloi@huaf.edu.vn Hợi Nguyễn nguyenhoi@huaf.edu.vn Tâm Nguyễn Hữu nguyenvanloi@huaf.edu.vn <p>Mục tiêu của nghiên cứu là phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến biến động và phân mảnh rừng tự nhiên. Nghiên cứu đã sử dụng phương pháp viễn thám và phân tích dữ liệu không gian dựa trên cơ sở GIS. Ba cảnh ảnh của vệ tinh Landsat 5 TM năm 2005 và Landsat OLI năm 2015 và 2020 đã được sử dụng để phân tích biến động và phân mảnh rừng tự nhiên ở huyện Nam Đông, tỉnh Thừa Thiên Huế giai đoạn 2005 - 2015 và 2015 - 2020. Kết quả cho thấy rừng tự nhiên đã giảm từ 76,77% năm 2005 xuống còn 75,41% năm 2015 và 73,79% năm 2020. Tỷ lệ diện tích rừng tự nhiên và phân mảnh rừng thay đổi trong giai đoạn 2005-2015 và 2015-2020 tương ứng là 0,41%; 1,77% và 1,93%; 2,32%. Những nhân tố được xác định có ảnh hưởng lớn nhất đến biến động và phân mảnh rừng tự nhiên từ năm 2005 đến 2020, bao gồm các khu rừng tự nhiên ở độ cao (≤ 300 m), độ dốc (≤ 150), tiếp cận các con đường (≤ 2000 m), các con sông suối (≤ 1000 m) và khu dân cư gần gần nhất (≤ 4000 m), rừng TXP, hỗn giao gỗ tre nứa, rừng TXN, bìa rừng, rừng cách ly thuộc rừng sản xuất và phòng hộ do UBND các xã và các cộng đồng quản lý. Kết quả nghiên cứu sẽ giúp cho các nhà quản lý lâm nghiệp đề xuất các giải pháp quản lý bảo vệ rừng tự nhiên có hiệu quả ở huyện Nam Đông, tỉnh Thừa Thiên Huế trong tương lai.</p> 2022-12-05T00:00:00+07:00 Bản quyền (c) 2022 Tạp chí Khoa học và công nghệ nông nghiệp Trường Đại học Nông Lâm Huế https://tapchi.huaf.edu.vn/index.php/id20194/article/view/913 ẢNH HƯỞNG CỦA NỒNG ĐỘ CaCl2, NHIỆT ĐỘ SẤY VÀ THỜI GIAN SẤY ĐẾN CHẤT LƯỢNG BỘT ỔI SẤY LẠNH 2021-12-16T10:24:01+07:00 Huyền Nguyễn Thỵ Đan nguyenthydanhuyen@huaf.edu.vn Tiên Nguyễn Thị Thủy nguyenthydanhuyen@huaf.edu.vn Khánh Trần Bảo nguyenthydanhuyen@huaf.edu.vn Nhung Hoàng Thị Cẩm nguyenthydanhuyen@huaf.edu.vn Ly Lê Thị Khánh nguyenthydanhuyen@huaf.edu.vn Tuệ Dương Gia Tuệ nguyenthydanhuyen@huaf.edu.vn Vân Nguyễn Thị Cẩm nguyenthydanhuyen@huaf.edu.vn Dương Hoàng Thị Thùy nguyenthydanhuyen@huaf.edu.vn <p>Nghiên cứu này nhằm khảo sát ảnh hưởng của nồng độ CaCl<sub>2</sub> trong nước ngâm trước khi sấy, nhiệt độ sấy và thời gian sấy đến chất lượng bột ổi sấy lạnh dựa trên các chỉ tiêu về độ ẩm, màu sắc, hàm lượng vitamin C và chất lượng cảm quan của sản phẩm bằng máy sấy bơm nhiệt. Ổi nguyên liệu được cắt lát khoảng 0,15 cm, xử lý với CaCl<sub>2</sub> nồng độ 2, 3, 4 và 5% (đối chứng 0%) để hạn chế sự mất màu và giảm độ nhớt của ổi trong quá trình sấy, sau đó được đưa đi sấy lạnh và nghiền mịn để tạo sản phẩm bột ổi. Kết quả cho thấy CaCl<sub>2</sub> nồng độ 4% giúp màu sắc của sản phẩm sáng hơn, chất lượng cảm quan cao hơn. Ảnh hưởng của nhiệt độ đến chất lượng bột ổi sấy lạnh được khảo sát ở các mốc nhiệt độ 45, 50, 55 và 60<sup>o</sup>C. Ảnh hưởng của thời gian sấy được khảo sát cách 2 giờ mỗi lần đối với độ ẩm kể từ khi bắt đầu sấy và ở 16, 18 và 20 giờ sau khi sấy đối với chỉ tiêu vitamin C và cảm quan. Ổi sấy ở 50<sup>o</sup>C trong 18 giờ cho độ ẩm 11,73% (&lt; 13%), hàm lượng vitamin C là 156 mg, tính chất cảm quan của bột ổi ở mức “thích” và “rất thích” trên thang 9 điểm. </p> 2022-12-05T00:00:00+07:00 Bản quyền (c) 2022 Tạp chí Khoa học và công nghệ nông nghiệp Trường Đại học Nông Lâm Huế https://tapchi.huaf.edu.vn/index.php/id20194/article/view/950 ẢNH HƯỞNG CỦA PHƯƠNG PHÁP KIỀM - TRUNG HÒA ĐẾN HIỆU QUẢ LOẠI BỎ AMONI CLORUA TRONG THỊT MỰC XÀ (Oualaniensis sthenoteuthis) KHÔ 2022-03-18T16:52:40+07:00 Thảo Phan Đỗ Dạ phandodathao@huaf.edu.vn Vinh Đỗ Ngọc phandodathao@huaf.edu.vn Hương Nguyễn Thị Diễm phandodathao@huaf.edu.vn Huế Nguyễn Văn phandodathao@huaf.edu.vn Điều Võ phandodathao@huaf.edu.vn Hà Lê Thu phandodathao@huaf.edu.vn <p>Mục đích của nghiên cứu này nhằm đánh giá một số yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả loại bỏ amoni clorua trong thịt mực xà (<em>Oualaniensis sthenoteuthis)</em> khô, làm cơ sở nâng cao giá trị cho nguồn nguyên liệu này. Nghiên cứu sử dụng phương pháp kiềm - trung hòa với yếu tố thử nghiệm là các nồng độ dung dịch kiềm (NaHCO<sub>3</sub>) 1-2,5% và dung dịch trung hòa (CH<sub>3</sub>COOH) 0,5-2%; thời gian xử lý kiềm 10-25 phút và xử lý trung hòa 5-20 phút tác động đến các chỉ tiêu chất lượng như hàm lượng NH<sub>4</sub>Cl còn lại trong mẫu, hiệu suất xử lý, màu sắc và cảm quan. Kết quả đã xác định được các yếu tố tác động mạnh và phù hợp đến chất lượng mực xà khô là dung dịch NaHCO<sub>3</sub> 2%, CH<sub>3</sub>COOH 1,5%; thời gian xử lý kiềm và trung hòa là 20 phút và 15 phút. Hiệu suất xử lý (<em>H<sub>xl</sub></em>) của phương pháp kiềm - trung hòa đạt giá trị cao 95,8%, NH<sub>4</sub>Cl trong mẫu sau xử lý còn 0,34 g/kg. Mực xà sau xử lý bằng phương pháp này có màu đỏ giảm thấp, độ sáng và độ trắng tăng cao với các giá trị lần lượt là <em>a*</em> = 4,00; <em>L*</em> = 60,32; <em>WI</em> = 59,50; cơ thịt mực có hậu vị tốt, gần như không còn vị chát đắng và mất hoàn toàn mùi khai; điểm cảm quan về vị và mùi lần lượt là 1,1 và 1,0. Mực khô sau xử lý có thể sử dụng làm nguyên liệu đầu vào cho chế biến thực phẩm.</p> 2022-12-05T00:00:00+07:00 Bản quyền (c) 2022 Tạp chí Khoa học và công nghệ nông nghiệp Trường Đại học Nông Lâm Huế https://tapchi.huaf.edu.vn/index.php/id20194/article/view/911 NGHIÊN CỨU QUY TRÌNH CHẾ BIẾN TRÀ TÚI LỌC NẤM VÂN CHI (Trametes versicolor) 2021-12-29T17:12:28+07:00 Chung Nguyễn Đức nguyenducchung@huaf.edu.vn Minh Vũ Tuấn vutuanminh@huaf.edu.vn Vương Hồ Sỹ nguyenducchung@huaf.edu.vn Hải Nguyễn Ninh nguyenducchung@huaf.edu.vn Huế Nguyễn Văn nguyenducchung@huaf.edu.vn <p>Nấm vân chi (<em>Trametes versicolor)</em> là loại nấm dược liệu được trồng phổ biến ở châu Á, nhất là ở các nước Nhật Bản và Trung Quốc để sử dụng như thực phẩm hoặc dược phẩm. Mục tiêu của nghiên cứu này là chế biến ra sản phẩm trà túi lọc nấm vân chi vừa tốt cho sức khỏe vừa tiện lợi khi sử dụng. Nghiên cứu này khảo sát ảnh hưởng của nhiệt độ và thời gian sấy đến sự giảm ẩm của quả thể nấm vân chi. Nghiên cứu ảnh hưởng của công thức phối trộn, lượng nước pha và thời gian hãm trà đến chất lượng cảm quan của trà thành phẩm. Một số thành phần hóa học cơ bản của nấm nguyên liệu và trà thành phẩm đã được phân tích với hàm lượng tính theo khối lượng khô lần lượt gồm protein 11,60% và 13,34%, lipid chiếm 0,56% và 1,24%, đường khử khoảng 7,16% và 7,29%. Trong nguyên liệu, sản phẩm và nước pha trà có hàm lượng polysaccharide - peptide tương ứng khoảng 2,65%, 2,84% và 2%, hàm lượng polysaccharide – Krestin tương ứng là 2,01%, 2,13% và 0,41%.</p> 2022-12-05T00:00:00+07:00 Bản quyền (c) 2022 Tạp chí Khoa học và công nghệ nông nghiệp Trường Đại học Nông Lâm Huế https://tapchi.huaf.edu.vn/index.php/id20194/article/view/958 ẢNH HƯỞNG CỦA XỬ LÝ NƯỚC NÓNG KẾT HỢP 1-METHYLCYCLOPROPENE ĐẾN MỘT SỐ CHỈ TIÊU CHẤT LƯỢNG BƠ BOOTH 7 TRONG QUÁ TRÌNH BẢO QUẢN 2022-04-18T08:14:54+07:00 Nhi Trần Thị Kim nguyenvantoan@huaf.edu.vn Luận Le Van nguyenvantoan@huaf.edu.vn Long Lê Thanh nguyenvantoan@huaf.edu.vn Chung Nguyễn Đức nguyenvantoan@huaf.edu.vn Vương Hồ Sỹ nguyenvantoan@huaf.edu.vn Toản Nguyễn Văn nguyenvantoan@huaf.edu.vn <p><strong>TÓM TẮT</strong></p> <p>Mục tiêu của nghiên cứu này là đánh giá được ảnh hưởng của việc xử lý nước nóng kết hợp với 1-methylcyclopropene (1-MCP) đến một số chỉ tiêu chất lượng bơ (Booth 7) trong thời gian bảo quản. Bơ sau khi thu hoạch được xử lý nước nóng ở các mức nhiệt độ 45℃; 47℃; 49℃; 51℃ trong 10 phút, các mẫu được bảo quản ở điều kiện thường (nhiệt độ: 25 - 30℃, RH: 70 - 80%), sau đó, quả tiếp tục được nhúng trong dung dịch 1-MCP với các nồng độ 420 ppb; 440 ppb; 460 ppb; 480 ppb trong 60 giây. Quả được làm khô ráo bề mặt và xếp vào các ngăn trong các thùng carton giấy và bảo quản ở điều kiện nhiệt độ 8±1℃ (RH: 80 - 90%). Mẫu không xử lý nước nóng (ĐC) và mẫu không xử lý 1-MCP (ĐC1) được sử dụng làm mẫu đối chứng. Cường độ hô hấp, cường độ sản sinh ethylene, hàm lượng acid tổng số, hàm lượng lipid tổng số, tỷ lệ hao hụt khối lượng, tỷ lệ hư hỏng được phân tích và đánh giá trong quá trình bảo quản. Kết quả nghiên cứu cho thấy; quả bơ xử lý nước nóng ở nhiệt độ 49℃ kết hợp với 1-MCP 460 ppb trong thời gian 60 giây có tác dụng kìm hãm và làm giảm cường độ hô hấp, ức chế cường độ sản sinh ethylene, duy trì chất lượng và kéo dài thời gian bảo quản quả bơ đến 33 ngày sau thu hoạch.</p> 2022-12-05T00:00:00+07:00 Bản quyền (c) 2022 Tạp chí Khoa học và công nghệ nông nghiệp Trường Đại học Nông Lâm Huế https://tapchi.huaf.edu.vn/index.php/id20194/article/view/966 ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG CHỐNG OXY HÓA CỦA DỊCH CHIẾT HÀNH, TỎI, HÀNH TĂM VÀ ỨNG DỤNG TRONG BẢO QUẢN DẦU LẠC TRUYỀN THỐNG 2022-06-22T08:42:53+07:00 Tiên Nguyễn Thị Thủy nguyenthithuytien84@huaf.edu.vn Khánh Trần Bảo tranbaokhanh@huaf.edu.vn Trang Nguyễn Hiền nguyenhientrang@huaf.edu.vn <p>Chất chống oxy hóa của hành, tỏi và hành tăm được chiết với ethanol 99% ở các tỷ lệ nguyên liệu : dung môi 1:2; 1:3 và 1:4 (w/v). Tỷ lệ 1:4 có hiệu suất chiết cao nhất ở cả 3 loại nguyên liệu, trong đó, tỏi có hiệu suất thu hồi cao chiết cao nhất, đạt 19,81% so với 18,23% và 16,90% của hành tăm và hành. Phương pháp bắt gốc tự do DPPH (2,2 – Diphenyl – 1 –picrylhydrazyl) được sử dụng để đánh giá khả năng chống oxy hóa của cao chiết hành, tỏi và hành tăm. Tỷ lệ bắt gốc tự do của cao chiết tỏi cao hơn so với hành tăm và hành ở tất cả các nồng độ khảo sát, 300, 600 và 900 µg/L. Nồng độ cao chiết càng cao, tỷ lệ bắt gốc tự do càng lớn. Ở nồng độ 900 µg/L của cao chiết tỏi, hành tăm và hành, tỷ lệ bắt gốc tự do đạt lần lượt 51,13%, 48,97% và 20,78%. Bổ sung cao chiết tỏi vào dầu lạc truyền thống ở nồng độ 900 µg/L giúp duy trì được chất lượng của dầu trong 8 tháng khi các chỉ tiêu peroxide (9,94 meqO<sub>2</sub>/kg), acid (4,19 mgKOH/g), xà phòng (198,21 mgKOH/g) và iodine (80,04 Wijs) vẫn trong giới hạn cho phép. Trong khi đó, sau 6 tháng bảo quản ở nhiệt độ phòng, mẫu dầu đối chứng (không bổ sung dịch chiết tỏi) có các chỉ số acid (4,12 mgKOH/g), xà phòng (197,05 mgKOH/g) và iodine (79,25 Wijs) vượt qua giới hạn cho phép theo TCVN 7597:2018 về dầu lạc thực phẩm. Như vậy, việc bổ sung cao chiết tỏi với nồng độ 900 µg/L vào dầu lạc truyền thống giúp kéo dài thêm 2 tháng thời gian bảo quản của dầu.</p> 2022-12-05T00:00:00+07:00 Bản quyền (c) 2022 Tạp chí Khoa học và công nghệ nông nghiệp Trường Đại học Nông Lâm Huế https://tapchi.huaf.edu.vn/index.php/id20194/article/view/873 NGHIÊN CỨU CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HIỆU QUẢ KINH TẾ MỘT SỐ LOẠI HÌNH SỬ DỤNG ĐẤT SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN A LƯỚI, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ 2021-10-18T08:00:09+07:00 Hiền Phạm Thị Thảo phamthithaohien@huaf.edu.vn Khoa Nguyễn Phúc phamthithaohien@huaf.edu.vn Ánh Nguyễn Ngọc phamthithaohien@huaf.edu.vn An Nguyễn Thị Thùy phamthithaohien@huaf.edu.vn <p>Sản xuất nông nghiệp có vai trò quan trọng đối với phát triển kinh tế và xã hội, đặc biệt là khu vực miền núi. Tuy nhiên, các loại hình sử dụng đất sản xuất nông nghiệp chịu ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên, kinh tế và xã hội. Mục tiêu của bài báo là xác định một số yếu tố ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp đến hiệu quả kinh tế một số loại hình sử dụng đất sản xuất nông nghiệp trên địa bàn xã Quảng Nhâm và Trung Sơn, huyện A Lưới. Nghiên cứu đã sử dụng phương pháp phân tích hồi quy tuyến tính đa biến (Multiple Linear Regression) để xác định các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế một số loại hình sử dụng đất sản xuất nông nghiệp. Kết quả nghiên cứu cho thấy, hiệu quả kinh tế sản xuất lúa chịu ảnh hưởng các yếu tố số lao động (20,44%), chí phí nguyên vật liệu trực tiếp (19,59%), loại đất (19,09%), hệ thống tưới tiêu (14,41%), số năm kinh nghiệm trồng trọt (13,48%) và vốn vay (13,29%). Kết quả nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, hiệu quả kinh tế sản xuất sắn bị chi phối do hệ thống tưới tiêu (30,31%), số lao động (23,96%), số năm kinh nghiệm trồng trọt (23,87%) và loại đất (21,86%). Nhìn chung, các yếu tố gồm chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, loại đất, số năm kinh nghiệm trồng trọt và hệ thống tưới tiêu ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp trên địa bàn huyện A Lưới.</p> 2022-12-05T00:00:00+07:00 Bản quyền (c) 2022 Tạp chí Khoa học và công nghệ nông nghiệp Trường Đại học Nông Lâm Huế https://tapchi.huaf.edu.vn/index.php/id20194/article/view/895 ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN BẤT ĐỘNG SẢN CÔNG NGHIỆP TẠI MỘT SỐ KHU CÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN THỊ XÃ PHÚ MỸ, TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU 2021-11-19T08:46:26+07:00 Ngữ Nguyễn Hữu nguyenhuungu1908@gmail.com Hiền Trần Văn nguyenhuunguwx@huaf.edu.vn Tiệp Nguyễn Văn nguyenhuunguwx@huaf.edu.vn Nõn Dương Quốc nguyenhuunguwx@huaf.edu.vn Phượng Trương Đỗ Minh nguyenhuunguwx@huaf.edu.vn Thanh Lê Hữu Ngọc nguyenhuunguwx@huaf.edu.vn Hùng Trần Quốc nguyenhuunguwx@huaf.edu.vn <p>Bài báo này nhằm mục đích trình bày thực trạng và đánh giá tình hình phát triển bất động sản công nghiệp trên địa bàn thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu dựa trên việc thu thập các số liệu và tham vấn ý kiến của các cán bộ về tình hình hoạt động của 2 khu công nghiệp trọng điểm trên địa bàn thị xã Phú Mỹ là khu công nghiệp chuyên sâu Phú Mỹ 3 và khu công nghiệp Mỹ Xuân B1 - Đại Dương trong giai đoạn 2015-2020. Kết quả nghiên cứu đã cho thấy công tác sử dụng đất và triển khai xây dựng cơ sở hạ tầng tại 2 khu công nghiệp vẫn đang hoàn thành theo quy hoạch ban đầu. Số lượng doanh nghiệp thuê đất và nhà xưởng tăng trong giai đoạn từ năm 2015 đến năm 2020. Tuy nhiên, các chi phí bất động sản công nghiệp tại khu công nghiệp chuyên sâu Phú Mỹ 3 là cao hơn so với chi phí bất động sản công nghiệp tại khu công nghiệp Mỹ Xuân B1 – Đại Dương. Bên cạnh những thuận lợi về mặt pháp lý và chính sách nhằm thu hút đầu tư, thì những khó khăn, tồn tại trong việc phát triển bất động sản công nghiệp trên địa bàn thị xã Phú Mỹ cũng đã được xác định như công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng chậm dẫn đến công tác thu hồi đất gặp nhiều khó khăn, thời gian thuê đất còn lại của chủ đầu tư là khá ngắn (chỉ hơn 30 năm), hạ tầng tại một số dự án khu công nghiệp chưa được đầu đồng bộ và tỷ lệ lấp đầy các khu công nghiệp vẫn còn thấp.</p> 2022-12-05T00:00:00+07:00 Bản quyền (c) 2022 Tạp chí Khoa học và công nghệ nông nghiệp Trường Đại học Nông Lâm Huế