Tạp chí Khoa học và công nghệ nông nghiệp, Trường Đại học Nông Lâm Huế http://tapchi.huaf.edu.vn/index.php/id20194 Tạp chí Khoa học và công nghệ nông nghiệp, trường Đại học Nông Lâm, Đại học Huế Trường Đại học Nông Lâm, Đại học Huế vi-VI Tạp chí Khoa học và công nghệ nông nghiệp, Trường Đại học Nông Lâm Huế 2588-1256 ẢNH HƯỞNG CỦA MẬT ĐỘ TRỒNG ĐẾN NĂNG SUẤT VÀ HÀM LƯỢNG PROTEIN MỘT SỐ GIỐNG DIÊM MẠCH (Chenopodium quinoa Willd.) NHẬP NỘI TẠI BUÔN MA THUỘT http://tapchi.huaf.edu.vn/index.php/id20194/article/view/430 <p>Nghiên cứu này thực hiện nhằm xác định mật độ trồng cho năng suất và hàm lượng protein tốt nhất đối với 4 giống diêm mạch nhập nội trồng trên đất nâu đỏ bazan tại thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk. Bố trí thí nghiệm theo khối ngẫu nhiên đầy đủ hai nhân tố (Randomized Complete Block design - RCBD) ba lần nhắc lại. Kết quả nghiên cứu đã xác định được giống diêm mạch Atlas cho năng suất thực thu cao nhất trong 4 giống, trung bình đạt 22,48 tạ/ha/vụ và hàm lượng protein tốt nhất đạt trung bình 18,49%; Mật độ trồng phù hợp nhất là 80.000 cây/ha cho năng suất thực thu trung bình đạt 20,59 tạ/ha/vụ. Giống Atlas trồng ở mật độ 80.000 cây/ha cho năng suất thực thu trung bình đạt cao nhất 26,03 tạ/ha/vụ, hàm lượng protein đạt 18,83%.</p> <p><strong>ABSTRACT</strong></p> <p>This study aimed at determining suitable crop density for the highest yield and protein content for four imported quinoa varieties grown on red brown bazal soil in Buon Ma Thuot city, Dak Lak province. The experiments were designed according to Randomized Complete Block Design (RCBD) for two factors with three replicates. The results showed that Atlas variety had the highest actual yield and protein content among the investigated varieties (22.48 quinals/ha/crop and 18,49%). The most suitable crop density was 80.000 plants/ha which resulted in an average actual yield of 20.59 quinals/ha/crop. The Atlas variety grown at the density of 80.000 plants/ha was the formulation having the highest actual yield and protein content (26.03 quinals/ha/crop and 18,83%).</p> <p>&nbsp;</p> Nguyễn Văn Minh ##submission.copyrightStatement## 2020-08-17 2020-08-17 4 2 1815 1823 10.46826/huaf-jasat.v4n2y2020.430 KẾT QUẢ TẬP TRUNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP TẠI HUYỆN TÂY HÒA, TỈNH PHÚ YÊN TRONG GIAI ĐOẠN 2013 - 2018 http://tapchi.huaf.edu.vn/index.php/id20194/article/view/432 <p>Nghiên cứu được thực hiện nhằm đánh giá kết quả tập trung đất nông nghiệp trên địa bàn huyện Tây Hòa, tỉnh Phú Yên trong giai đoạn 2013- 2018. Trên cơ sở các số liệu thứ cấp được thu thập từ các cơ quan chức năng trên địa bàn huyện Tây Hòa và kết quả xử lý số liệu phỏng vấn các hộ gia đình, cá nhân đã thực hiện tập trung đất nông nghiệp, nghiên cứu đã chỉ ra một số kết quả. Cụ thể: (i) Việc tập trung đất nông nghiệp đã diễn ra ở tất cả 11 xã và thị trấn trên địa bàn huyện Tây Hòa với ba loại đất là đất trồng cây hàng năm, đất trồng cây lâu năm và đất rừng sản xuất; (ii) Việc tập trung đất nông nghiệp được thực hiện với ba hình thức là dồn điền đổi thửa, nông dân tự góp đất nông nghiệp để liên kết sản xuất và người dân thuê đất nông nghiệp ngắn hạn để sản xuất; (iii) Tổng số hộ thực hiện tập trung đất nông nghiệp là 8.538 hộ với tổng diện tích đất nông nghiệp được tập trung là 4.672,1 ha; (iv) Tập trung đất nông nghiệp đã làm giảm số thửa đất bình quân trên hộ, làm tăng diện tích đất bình quân trên thửa do vậy đã làm nâng cao hiệu quả sử dụng đất và tạo điều kiện thuận lợi cho việc sử dụng đất của người dân.</p> <p><strong>ABSTRACT</strong></p> <p>This research was conducted in Tay Hoa district, Phu Yen province to assess the results of agricultural land concentration. Based on collecting and analyzing data related to agricultural land concentration in period of 2013-2018 in Tay Hoa district, the research showed that: (i) The concentration of agricultural land was happened in 11 communes and towns in Tay Hoa district with three types of land, including: annual crop land, perennial crop land and production forest land; (ii) The concentration of agricultural land was carried out in three forms: land consolidation, farmers contributed agricultural land to link production and people who rent agricultural land for production in a short-term; (iii) There were 8.538 households that carried out in agricultural land concentration with a total of agricultural land area of 4.672,1 ha; (iv) Concentration of agricultural land has reduced the average number of parcels of land per household and increased the average land area on the parcel in order to enhance the efficiency of land use and create favorable conditions for people in the process of land use.</p> Nguyễn Thị Hải Phạm Hoài Phong ##submission.copyrightStatement## 2020-08-17 2020-08-17 4 2 1824 1832 10.46826/huaf-jasat.v4n2y2020.432 KẾT QUẢ VIỆC THỰC HIỆN CHUYỂN NHƯỢNG VÀ TẶNG CHO QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT CỦA HỘ GIA ĐÌNH, CÁ NHÂN TẠI HUYỆN ĐỨC TRỌNG, TỈNH LÂM ĐỒNG http://tapchi.huaf.edu.vn/index.php/id20194/article/view/435 <p>Nghiên cứu này được tiến hành tại huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng với mục tiêu chính là phân tích được thực trạng việc thực hiện chuyển nhượng và tặng cho quyền sử dụng đất của hộ gia đình, cá nhân giai đoạn 2014-2018. Kết quả nghiên cứu cho thấy, chuyển nhượng quyền sử dụng đất của hộ gia đình, cá nhân trên địa bàn huyện Đức Trọng trong giai đoạn 2014-2018 có 1.977 hồ sơ với tổng diện tích là 3.339.966,7 m<sup>2</sup>, trong đó đó đất ở có 1.078 hồ sơ (chiếm 54,5% tổng hồ sơ) và đất nông nghiệp có 899 hồ sơ (chiếm 45,5% tổng hồ sơ). Theo kết quả điều tra, có 2 nguyên nhân chính dẫn đến chuyển nhượng quyền sử dụng đất tại địa bàn nghiên cứu đó là lấy tiền để đầu tư sản xuất, kinh doanh và xây dựng nhà. Trong giai đoạn này có 230 hồ sơ tặng cho quyền sử dụng đất. Đa số các trường hợp tặng cho đều thực hiện cho người thân trong gia đình (bố, mẹ, con, anh chị em ruột). Kết quả nghiên cứu cho thấy đa số người dân cho rằng các văn bản, chính sách pháp luật, văn bản hướng dẫn việc thực hiện chuyển nhượng và tặng cho QSDĐ là phù hợp, văn bản hướng dẫn dễ hiểu và hiểu được, thời gian giải quyết các thủ tục đúng hạn và nhanh, thái độ của cán bộ thụ lý hồ sơ là nhiệt tình và chuẩn mực. Theo ý kiến của người dân cần tiếp tục cải cách hành chính để thành phần hồ sơ không quá phức tạp và giảm phí và lệ phí liên quan đến việc thực hiện chuyển nhượng và tặng cho quyền sử dụng đất.</p> <p><strong>ABSTRACT</strong></p> <p>The research was conducted in Duc Trong district to evaluate the real situation of implementing transfer and donation of land use rights of households and individuals in the period of 2014-2018. The two research methods were used including primary and secondary data collection. The results showed that transfer of land use right was well- implemented with 1,977 dossiers with a total area of ​​3,339,966.7 m<sup>2</sup>, of which residential land had 1,078 dossiers and agricultural land was 899 dossiers. According to the survey results, there were two main following reasons leading to the transfer of land use rights in the study area including investment in production and business and need money for housing construction. There were 230 land donation dossiers in the period of 2014-2018, most of the donation were given to close relatives such as parents, children, and siblings. In addition to the positive points, the results of the household survey also indicated that dossier composition and fees and charges for implementing land use rights should be simplified and reduced.</p> Trần Thanh Đức Đinh Thị Minh Trang Lê Thanh Bồn Nguyễn Trung Hải Cù Thị Hiên ##submission.copyrightStatement## 2020-08-17 2020-08-17 4 2 1833 1841 10.46826/huaf-jasat.v4n2y2020.435 KHẢO SÁT NHIỆT ĐỘ HỒ HOÁ VÀ CẤU TRÚC TINH BỘT TỪ CỦ CỦA HAI LOÀI THUỘC CHI NƯA (Amorphophallus) http://tapchi.huaf.edu.vn/index.php/id20194/article/view/436 <p><em>Amorphophallus lanceolatus </em>và<em> Amorphophallus opertus </em>là hai loài hiếm thuộc họ Ráy (Araceae) và được ghi nhận là những loài đặc hữu của Việt Nam. Trong nghiên cứu này, chúng tôi khảo sát đặc điểm cấu trúc và nhiệt độ hồ hóa của tinh bột có trong củ của hai loài <em>A. lanceolatus </em>và <em>A. opertus</em>. Bằng phương pháp đo độ nhớt ở các nhiệt độ khảo sát cũng như quan sát cấu trúc hạt tinh bột bằng kính hiển vi quang học OLYMBUS BX53 (USA) dưới vật kính 100X kết hợp với phần mềm OLYMBUS cellSens Standard đi kèm thiết bị. Kết quả nghiên cứu cho thấy, hạt tinh bột của loài <em>A. lanceolatus</em> có kích thước trung bình là 213,3 &nbsp;0,05 µm, có dạng tinh thể hình cầu hoặc hình đa giác, nhiệt độ hồ hóa là khoảng từ 50 đến 60<sup>o</sup>C. Trong khi đó, hạt tinh bột của loài <em>A. opertus</em> có kích thước trung bình là 319,33 &nbsp;0,05 µm, dạng hình lập phương tâm khối, nhiệt độ hồ hóa tinh bột khoảng từ 60 đến 70<sup>o</sup>C.</p> <p><strong>ABSTRACT</strong></p> <p><em>Amorphophal</em><em>l</em><em>us lanceolatus</em> and <em>Amorphophal</em><em>l</em><em>us</em> <em>o</em><em>pertus</em> were rare members belonging to Araceae family and were recorded as the endemic species of Vietnam. In this study, the structure and gelatinization temperature of starch granules from tubers of two studied species were analysed using microscope and viscosity measurement method. Consequently, the medium - size of <em>A. lanceolatus </em>starch granule is 213,3 &nbsp;0,05 µm, starch crystals are sphere or polygon; gelatinization temperature of starch granule is from 50 to 60<sup>o</sup>C. The medium - size of <em>A. opertus</em> starch granule is 319,33 &nbsp;0,05 µm, starch crystals are cube; gelatinization temperature of starch granule is from 60 to 70<sup>o</sup>C.</p> Trần Ngọc Bửu Trịnh Trần Tiến Võ Thị Như Trúc Nguyễn Ngọc Thuần Lê Văn Sơn Lưu Hồng Trường Nguyễn Phi Ngà Văn Hồng Thiện ##submission.copyrightStatement## 2020-08-17 2020-08-17 4 2 1842 1850 10.46826/huaf-jasat.v4n2y2020.436 TÁC ĐỘNG CỦA VIỆC THU HỒI ĐẤT CHO MỤC ĐÍCH PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP ĐẾN SINH KẾ NGƯỜI DÂN TRÊN ĐỊA BÀN THỊ XÃ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG http://tapchi.huaf.edu.vn/index.php/id20194/article/view/437 <p>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;Kết quả phân tích mô hình logistic của 130 hộ gia đình bị thu hồi đất cho mục đích phát triển công nghiệp trên địa bàn thị xã Bến Cát cho thấy có 5 nhân tố từ cao cho tới thấp ảnh hưởng đến thu nhập của người dân sau khi bị thu hồi đất như sau: (1) Sử dụng tiền đền bù để đầu tư kinh doanh; (2) Diện tích bị thu hồi; (3) Số lao động tạo ra thu nhập trong hộ gia đình; (4) Trình độ học vấn của chủ hộ; (5) Tỷ lệ người phụ thuộc trong hộ gia đình. Kết quả nghiên cứu này là nguồn tài liệu tham khảo cho các cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong hoạt động ban hành, sửa đổi, bổ sung các quy định của pháp luật đất đai liên quan tới lĩnh vực thu hồi đất cho mục đích phát triển công nghiệp.</p> <p><strong>ABSTRACT</strong></p> <p>The results of logistic model analysis of 130 households whose land recovered for the purpose of industrial development in Ben Cat town showed that there are 5 factors from high to low affecting people's income after land acquisition as follows: (1) Use of money compensation for business investment; (2) Area acquired; (3) Number of employees generating income in the household; (4) Educational attainment of householder; (5) Proportion of dependents in the household. The results of this study are used as a reference source for competent state agencies in issuing, amending and supplementing the provisions of the land law related to the field of land acquisition for the industry development purpose.</p> Nguyễn Thành Hưng Bạch Thanh Trọng ##submission.copyrightStatement## 2020-08-17 2020-08-17 4 2 1851 1860 10.46826/huaf-jasat.v4n2y2020.437 THỰC TRẠNG VÀ NHỮNG THÁCH THỨC TRONG QUẢN LÝ ĐẤT NGẬP NƯỚC TẠI VÙNG CỬA SÔNG Ô LÂU, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ http://tapchi.huaf.edu.vn/index.php/id20194/article/view/438 <p>Nghiên cứu này nhằm mục đích làm rõ những đặc điểm và những thách thức trong quản lý, bảo tồn đất ngập nước (ĐNN) tại vùng cửa sông Ô Lâu (CSÔL), tỉnh Thừa Thiên Huế. Kết hợp phương pháp phỏng vấn nông hộ, phỏng vấn cán bộ với phương pháp bản đồ, GIS, viễn thám đã cho thấy, vùng CSÔL có diện tích khoảng 11.000 ha, trong đó, vùng lõi có diện tích là khoảng 433 ha. Theo tiêu chuẩn phân loại ĐNN của Việt Nam, khu vực này có 3 nhóm chính là i) nhóm ĐNN biển và ven biển; ii) nhóm ĐNN nội địa; và iii) nhóm ĐNN nhân tạo. Hiện nay, người dân vẫn đang khai thác các nguồn tài nguyên của vùng CSÔL cho các hoạt động sinh kế. Khoảng 99,6 ha cây bụi tại các bãi bồi đã bị thay thế bởi các loại cây nông nghiệp. Tài nguyên, cảnh quan ĐNN tại CSÔL đang bị biến đổi mạnh mẽ và chức năng sinh thái của khu vực này cũng đang bị suy giảm mạnh. Để phục hồi các chức năng của vùng CSÔL, cần nhiều giải pháp từ cả chính quyền địa phương, người dân và các nhà khoa học. Trong đó, quan trọng nhất là nhận thức của người dân và ý chí của các cấp quản lý trong quá trình hoạch định chiến lược phát triển của vùng.</p> <p><strong>ABSTRACT</strong></p> <p>This study aimed at determining the O Lau river’s wetlands (OLRW) characteristics and identifying challenges in wetland management and conservation. By using various methods such as households and local government’s staff interview, mapping, geographic information system (GIS), remote sensing, the research results showed that the OLRW was about 11.000 hectares in which its core zone was about 433 hectares. Following Vietnam’s classification of wetlands, OLRW has three main categories, namely: i) marine and coastal wetlands; ii) inland wetlands; and iii) man-made wetlands. Currently, inhabitants are exploiting OLRW’s natural resources for their livelihood activities. Approximately 99,6 hectares of shrub-dominated wetlands were replaced by agricultural crops. OLRW’s natural resources and landscape have been destroying by human’s activities. In addition, its ecological function has also been reducing. For OLRW’s ecological functional resilience, it is necessary for the local government, inhabitants and sicientists to take countermeasures. The most important keys are inhabitants’ perception and local government’s mind in deciding to make of the development of the strategic plans.</p> Dương Quốc Nõn Nguyễn Hữu Ngữ Trương Đỗ Minh Phượng Lê Hữu Ngọc Thanh Nguyễn Thị Nhật Linh Nguyễn Thành Nam Lê Thị Thúy ##submission.copyrightStatement## 2020-08-17 2020-08-17 4 2 1861 1870 10.46826/huaf-jasat.v4n2y2020.438 ẢNH HƯỞNG CỦA MÙA VỤ ĐẾN NĂNG SUẤT SINH SẢN CỦA CHIM CÚT NUÔI TẠI THỪA THIÊN HUẾ http://tapchi.huaf.edu.vn/index.php/id20194/article/view/401 <p>Nghiên cứu nhằm đánh giá ảnh hưởng của mùa vụ đến năng suất sinh sản của chim cút nuôi tại Thừa Thiên Huế. Thí nghiệm đã được tiến hành trên 108 chim cút đẻ trứng thương phẩm trong 6 tháng đẻ trứng vào 2 mùa vụ bắt đầu đẻ trứng: vụ Đông - Xuân (từ 12/2018 đến 5/2019) và vụ Hè - Thu (từ 6/2019 đến 11/2019). Chim cút được cho ăn thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh cho cút đẻ của công ty cổ phần Greenfeed Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy đàn chim cút đẻ vào vụ Đông - Xuân có năng suất trứng và tỷ lệ đẻ lần lượt là 20,76 quả/mái/tháng và 69,21%; cao hơn so với đàn chim cút đẻ vào vụ Hè - Thu với kết quả tương ứng là 18,25 quả/mái/tháng và 60,84% (P&lt;0,05). Hệ số chuyển hóa thức ăn (FCR)&nbsp; trung bình cả giai đoạn của đàn chim cút được nuôi trong vụ Đông - Xuân thấp hơn so với vụ Hè – Thu (3,22 so với 3,75 kg thức ăn/kg trứng) (P&lt;0,05). Khối lượng trứng trung bình của đàn chim cút dao động từ 10,49 đến 10,74 g/quả. Tỷ lệ lòng trắng trứng của trứng cút đẻ trong vụ Đông - Xuân thấp hơn so với đàn chim cút đẻ trong vụ Hè - Thu trong khi tỷ lệ lòng đỏ lại có xu hướng ngược lại (P&lt;0,05).</p> <p><strong>ABSTRACT</strong></p> <p>This study was carried out to determine the effect of seasons on reproductive performance of egg-quails in Thua Thien Hue province. A total number of 108 6-months female quails laying in 2 different group seasons when quail starting laying was chosen to collect the data: Winter - Spring season (from December 2018 to May 2019) and Summer - Autumn season (from June 2019 to November 2019). The quails were fed by the complete feed of GreenFeed Vietnam Corporation. The results showed that quails laying in Winter - Spring season had higher egg production, laying rate and average feed conversion ratio than quails laying in Summer - Autumn season (P&lt;0.05). Egg production, laying rate and average feed conversion ratio of quails laying in Winter - Spring and Summer - Autumn season were 20.76 and 18.25 egg/quail/month; 69.21 and 60.84% and 3.22 and 3.75 kg feed/kg egg, respectively. An average of egg weight was 10.49 - 10.74 g (P&gt;0.05). The percentage of albumin of the quails laying in Winter - Spring season was lower than that of the quails laying in Summer - Autumn season while the percentage of yolk tended to be opposite (P &lt;0.05).</p> Trần Ngọc Long Văn Ngọc Phong Lê Đình Phùng ##submission.copyrightStatement## 2020-08-17 2020-08-17 4 2 1871 1877 10.46826/huaf-jasat.v4n2y2020.401 ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ BIỆN PHÁP KỸ THUẬT CANH TÁC ĐẾN SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN VÀ NĂNG SUẤT CỦA GIỐNG NGÔ LAI HQ2000 http://tapchi.huaf.edu.vn/index.php/id20194/article/view/440 <p>Nghiên cứu này nhằm đánh giá tác động của các biện pháp làm đất và mật độ trồng khác nhau đến quá trình sinh trưởng, phát triển, năng suất và hiệu quả kinh tế của giống ngô lai HQ2000 trên đất cát nội đồng trong vụ Đông Xuân năm 2018-2019 tại Thừa Thiên Huế. Thí nghiệm thứ nhất gồm 3 công thức gồm làm đất truyền thống, làm đất tối thiểu và không làm đất trong đó thí nghiệm thứ hai gồm 4 công thức với mật độ gieo trồng lần lượt là 47.058, 53.333, 61.538 và 66.666 cây/ha. Kết quả thí nghiệm cho thấy: Thời gian hoàn thành các giai đoạn sinh trưởng và phát triển ở các biện pháp làm đất tối thiểu có xu hướng ngắn hơn các công thức làm đất truyền thống; chiều cao cây cuối cùng dao động từ 154 đến 175cm, số lá dao động từ 16 đến 18 lá, diện tích lá đóng bắp có xu hướng giảm ở các công thức làm đất tối thiểu trong khi các yếu tố khác như chiều cao đóng bắp, chiều dài bắp, đường kính bắp và đường kính lóng gốc ở các công thức thí nghiệm dao động tương đối ít. Năng suất lý thuyết dao động từ 61 đến 72 tạ/ha, năng suất thực thu đạt cao nhất là 59,8 tạ/ha ở công thức không làm đất. Đối với biện pháp canh tác truyền thống, năng suất đạt cao nhất ở mật độ 18,5 kg hạt giống/ha (63,4 tạ/ha). Ở các công thức thí nghiệm, lợi nhuận đạt cao nhất ở công thức không làm đất và ở mật độ trồng là 18,5 kg hạt giống/ha, tương đương 61.538 cây/ha.</p> <p>&nbsp;<strong>ABSTRACT</strong></p> <p>This study aims to evaluate the impact of different tillage methods and planting densities on the growth, development, grain yield and economic efficiency of hybrid maize HQ2000 on sandy soil in the 2018-2019 Winter-Spring season in Thua Thien Hue province. The first trial consisted of three treatments including conventional tillage, limited tillage and no tillage; the second trial consisted of four treatments with planting density of 47.058, 53.333, 61.538 và 66.666 plants/ha, respectively. Experimental results showed that: The completed time of the growth and development stages at the minimum tillage methods was shorter than conventional tillage treatments; final plant height varied from 154 to 175cm, the number of leaves ranged from 16 to 18 leaves, the leaf area at ​​corn position decreased in minimum tillage treatments while other factors such as ear height, ear length, ear diameter and stalk diameter at prop root position fluctuated slightly. Potential grain yield varied from 6.1 to 7.2 tons/ha, the highest actual grain yield was 5.98 tons/ha in the no-tillage treatment. For conventional tillage, the highest grain yield was at 18.5 kg seed/ha treatment (6.34 tons/ha). In the experimental treatments, the highest profit was achieved in the no-tillage treatment and in planting density of 18.5 kg seed/ha, equivalent 61,538 plants/ha.</p> <p>&nbsp;</p> <p>&nbsp;</p> <p>&nbsp;</p> Nguyễn Trung Hải Trần Thanh Đức Vi Thị Linh ##submission.copyrightStatement## 2020-08-17 2020-08-17 4 2 1878 1887 10.46826/huaf-jasat.v4n2y2020.440 NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA THÀNH PHẦN DỊCH RÓT ĐẾN MỘT SỐ CHỈ TIÊU CHẤT LƯỢNG SẢN PHẨM ỚT XIÊM (Capsicum spp.) RỪNG MUỐI CHUA http://tapchi.huaf.edu.vn/index.php/id20194/article/view/403 <p>Ớt xiêm rừng là loại cây gia vị có vị cay nồng đặc trưng, mọc tự nhiên trong rừng ở một số khu vực miền núi và trung du phía Bắc và miền Trung nước ta. Việc chế biến sản phẩm muối chua giúp đa dạng hóa và tăng khả năng tiêu thụ sản phẩm từ ớt xiêm tươi do tác dụng kéo dài thời gian bảo quản của phương pháp lên men. Ớt nguyên liệu đạt yêu cầu chế biến về cả màu sắc và giá trị dinh dưỡng, đặc biệt là không có sự có mặt của kim loại nặng (thường có do sự sử dụng thuốc bảo vệ thực vật). Thành phần các nguyên vật liệu trong dịch rót có yếu tố quyết định đến khả năng lên men, sự điều vị và các chỉ tiêu chất lượng của sản phẩm với tỷ lệ thích hợp cho sản phẩm ớt xiêm rừng muối chua. Nghiên cứu này khảo sát các nguyên liệu phối chế ở các nồng độ tương ứng là acetic acid (0,72%, 0,9%, 1,08% và 1,26%); muối (4,2%, 5,2%, 6,2% và 7,2%) và đường (5,5%, 6,5%, 7,5%, 8,5%). Kết quả xác định được công thức thích hợp là acid acetic 0,9%, muối ăn (NaCl) 5,2%, đường (saccharose) 7,5%. Sản phẩm làm ra đảm bảo chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm do không có sự có mặt của các kim loại nặng và các chỉ tiêu vi sinh vật đều trong giới hạn cho phép theo Tiêu chuẩn Việt Nam.</p> <p><strong>ABSTRACT</strong></p> <p>Local chili (Ot xiem), spicy chili which has strong taste, popularly distributed in the mountainous areas in the Northern and Central regions of Vietnam. Fermentation helps the chili increase the sensoly values and extend of its shelflife. This study showed that chili has met the requirements of processing for color and nutritional factors, especially it did not contain heavy metals derived from insecticides and herbicides. The ingredients and their ratios in the solution play an important role in the fermentation ability, taste modification, and other quality characteristics of the product. This study screened for the compatible ratios of acetic acid (0.72%, 0.9%, 1.08% and 1.26%); salt (4.2%, 5.2%, 6.2% và 7.2%) and sugar (5.5%, 6.5%, 7.5%, 8.5%). The results indicated that the appropriate ratios of acetic acid, salt, and sugar were 0.9%, 5.2%, and 7.5%, respectively. The product has met the requirements of food safety, especially it did not contain heavy metals and bacteria at the level of restriction requirements according to Vietnamese National Standards (TCVN) for fermented vegetables.</p> Nguyễn Đức Chung Nguyễn Văn Huế Đinh Đặng Minh Tâm Phan Thị Bé Nguyễn Ngọc Truyền ##submission.copyrightStatement## 2020-08-17 2020-08-17 4 2 1888 1896 10.46826/huaf-jasat.v4n2y2020.403 HIỆU QUẢ TÀI CHÍNH TRỒNG DỪA SÁP VÀ DỪA THƯỜNG TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN CẦU KÈ, TỈNH TRÀ VINH http://tapchi.huaf.edu.vn/index.php/id20194/article/view/326 <p>Nghiên cứu được thực hiện từ tháng 3 năm 2018 đến tháng 11 năm 2018 thông qua phỏng vấn 90 nông hộ trồng dừa tại huyện Cầu Kè, tỉnh Trà Vinh bằng phương pháp đánh giá nhanh nông thôn. Qua đó, so sánh hiệu quả kinh tế trồng dừa Sáp và dừa thường, phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến lợi nhuận và đề xuất giải pháp cho cây dừa trên địa bàn tỉnh Trà Vinh. Kết quả cho thấy chi phí sản xuất cho 1 ha dừa thường là 23,4 triệu đồng/ha, lợi nhuận trung bình trong năm trồng là 55,8 triệu đồng/ha/năm. Có 2 yếu tố ảnh hưởng đến lợi nhuận của dừa thường đó là quy mô đất canh tác và số lao động trồng tham gia trồng dừa. Chi phí cho 1 ha dừa Sáp là 28,7 triệu đồng/ha, lợi nhuận trung bình trong 1 năm trồng là 286 triệu đồng/ha/năm. Có 2 yếu tố ảnh hưởng đến lợi nhuận của dừa Sáp đó là tỷ lệ trái dừa Sáp và trình độ học vấn của người trồng dừa. Để mở rộng diện tích trồng dừa trong tương lai cần có các giải pháp về giống, khoa học kỹ thuật, liên kết sản xuất và tiêu thụ sản phẩm trong sản xuất dừa Sáp và dừa thường.</p> <p><strong>ABSTRACT</strong></p> <p>The study was conducted from March to November 2018 by 90 coconut households in Cau Ke district, Tra Vinh province who were interviewed by using a Participatory Rural Appraisal (PRA) method, then, compared the economic efficiency between planting Sap coconut and normal coconut The study proposing solution to the development of coconut trees in Tra Vinh province indicated that factors affected profitability. The results showed that the input for production for 1 ha of coconut was usually 23.4 million VND, the average of profit was 55.8 million VND/ha/year. There were two factors that affected the profitability of normal coconut: the farming size and the number of labors who took part in cultivating the coconuts. Meanwhile, the input for one hectare of Sap coconut was 28,7 million VND, the average of profit was 286 million VND/ha /year and the factors affected the profit of Sap coconut cultivation is the ratio of Sap nut and education of Sap coconut growers. In order to expand the coconut cultivation area in the future, it is necessary to have solutions to new seedling, to apply new science and technology, to link the production and consumption of products in both Sap coconut and normal coconut.</p> <p>&nbsp;</p> <p>&nbsp;</p> Võ Minh Hải Phạm Thị Phương Thuý Lê Duy Cường Lê Vĩnh Thúc Nguyễn Bảo Toàn ##submission.copyrightStatement## 2020-08-31 2020-08-31 4 2 1897 1906 10.46826/huaf-jasat.v4n2y2020.326 ĐIỀU TRA THỰC TRẠNG SỬ DỤNG VÀ ĐÁNH GIÁ ẢNH HƯỞNG CỦA PACLOBUTRAZOL ĐẾN SINH TRƯỞNG VÀ NĂNG SUẤT GIỐNG LÚA IR 50404 http://tapchi.huaf.edu.vn/index.php/id20194/article/view/444 <p>Chống đổ ngã và tăng số lượng chồi cho cây lúa là cách mà nông dân sử dụng Paclobutrazol (PBZ) lâu nay. Đề tài được thực hiện với các mục tiêu: (i) điều tra sử dụng PBZ của nông dân trên cây lúa, (ii) đánh giá mức độ tồn dư PBZ trong đất (iii) đánh giá hấp thụ PBZ từ đất vào trong cây lúa.Thí nghiệm được bố trí theo phương pháp khối hoàn toàn ngẫu nhiên gồm bốn nghiệm thức (T1: Đối chứng: 0 kg PBZ&nbsp; ha<sup>-1</sup>, T2: 1,0 kg PBZ&nbsp; ha<sup>-1</sup>, T3: 1,5 kg PBZ ha<sup>-1</sup>, T4: 3,0 kg PBZ ha<sup>-1</sup>) với bốn lần lặp lại. Kết quả điều tra nông dân đã sử dụng PBZ, kết hợp với phân bón để bón vào hai giai đoạn lúa 20 đến 25 ngày sau sạ (NSS) và 40 đến 45 NSS, với liều lượng trung bình 1,55 kg ha<sup>-1</sup>. Xử lý PBZ ở nghiệm thức T2 và T3 giúp giảm chiều cao cây lúa, tăng số chồi trên đơn vị diện tích nhưng không làm tăng năng suất lúa. Các nghiệm thức xử lý đều để lại tồn lưu PBZ trên thân (T1: 60 µg, T2: 2.220 µg, T3: 1.090 µg, T4: 34 µg) và trên hạt lúa (T1: 104 µg, T2: 550 µg, T3: 110 µg, T4: 0 µg) và trong đất sau thí nghiệm (T1: 16,3 µg, T2: 24,0 µg, T3: 9,90 µg, T4: 6,60 µg).</p> <p><strong>ABSTRACT</strong></p> <p>Lodging resistance and increasing the quantity of tillers for rice are that Paclobutrazol (PBZ) has been used by farmers for a long time. The study was conducted to aim at: (i) investigating farmers' habits of using Paclobutrazole on rice, (2) evaluating PBZ residues in soil and (3) evaluating PBZ absorption ability from soil into rice. The experiment was conducted in randomized complete block design (RCBD) with four treatments (T1: 1,5 kg PBZ / ha, T2: 3,0 kg PBZ/ ha, T3: 1,0 kg PBZ /ha, T4: 0 kg PBZ /ha) and four replications. The i<em>nvestigated</em> results<em> of farmers </em>showed that PBZ has been used for a long time, PBZ was used by farmers in combination with fertilizer application into two stages of 20 to 25 <em>days after</em>&nbsp;seeding (DAS) and 40 to 45 DAS (63,3 %), an average dosage was 1,55kg/ ha. The results showed that T2 and T3 treatments were effective to reduce the height of rice plants, increase the number of shoots per unit area but did not increase rice yield. PBZ treatments &nbsp;had residue in leaf stalks (T1: 60 µg, T2: 2.220 µg, T3: 1.090 µg, T4: 34 µg), rice seeds (T1: 104 µg, T2: 550 µg, T3: 110 µg, T4: 0 µg), and soil after <em>harvesting rice</em> (T1: 16,3 µg, T2: 24,0 µg, T3: 9,90 µg, T4: 6,60 µg).</p> Nguyễn Văn Chương ##submission.copyrightStatement## 2020-08-17 2020-08-17 4 2 1907 1914 10.46826/huaf-jasat.v4n2y2020.444 ỨNG DỤNG MÔ HÌNH ARIMA DỰ BÁO SẢN LƯỢNG LÚA TỈNH THỪA THIÊN HUẾ ĐẾN NĂM 2025 http://tapchi.huaf.edu.vn/index.php/id20194/article/view/445 <p>Nghiên cứu sử dụng số liệu thống kê về năng suất lúa từ 1995 – 2018 và sử dụng phần mềm Excel 2010 để nhập số liệu và Eview 10.0, SPSS 16.0 để chạy mô hình nhằm xây dựng mô hình dự báo ARIMA thích hợp cho dự báo sản lượng lúa ở Thừa Thiên Huế. Sử dụng tiêu chuẩn thông tin BIC (Bayesian Information Criterion) để tìm ra mô hình phù hợp, kết quả cho thấy: mô hình ARIMA (1,1,0) là thích hợp để giải thích sự biến động sản lượng lúa tỉnh Thừa Thiên Huế trong giai đoạn trên và cũng đưa ra dự báo về sản lượng lúa tỉnh Thừa Thiên Huế năm 2019 đến 2025.</p> Phạm Thị Thảo Hiền Nguyễn Ngọc Ánh Tôn Nữ Tuyết Trinh Nguyễn Đức Hồng ##submission.copyrightStatement## 2020-08-17 2020-08-17 4 2 1915 1921 10.46826/huaf-jasat.v4n2y2020.445 XÁC ĐỊNH MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM BỆNH LÝ CỦA LỢN MẮC DỊCH TIÊU CHẢY CẤP DO PORCINE EPIDEMIC DIARRHEA VIRUS (PEDV) GÂY RA TRÊN LỢN CON THEO MẸ TẠI CÁC VÙNG SINH THÁI Ở TỈNH THANH HÓA http://tapchi.huaf.edu.vn/index.php/id20194/article/view/446 <p>Nghiên cứu được tiến hành nhằm xác định sự có mặt của virus PEDV gây bệnh trên đàn lợn con theo mẹ từ đó xác định các đặc điểm bệnh lý của dịch tiêu chảy cấp tại một số địa phương của tỉnh Thanh Hóa. Sáu mươi lợn con theo mẹ từ 1 đến 4 tuần tuổi nghi mắc dịch tiêu chảy cấp tại các trang trại thuộc bốn huyện ở tỉnh Thanh Hóa được thu mẫu để kiểm tra sự có mặt của PEDV bằng phương pháp RT-PCR. Kết quả cho thấy tỷ lệ dương tính với PEDV rất cao: ở mẫu ruột và hạch màng treo ruột là 76,67%, ở mẫu phân là 51,67%. Hồi cứu kết quả RT-PCR để xác định triệu chứng lâm sàng chủ yếu của lợn mắc tiêu chảy cấp cho thấy: lợn tiêu chảy phân lỏng, màu vàng hoặc xám, ủ rũ mệt mỏi, nằm dồn đống hoặc nằm trên bụng mẹ (100%); lợn gầy sút nhanh (82,60%), uống nhiều nước (60,86%) và thân nhiệt giảm (54,34%); một số con có biểu hiện nôn (54,34%). Các bệnh tích đại thể chủ yếu là xác lợn chết khô gầy, da nhăn, phân màu vàng dính bết ở hậu môn (100%), dạ dày căng phồng, chứa sữa chưa tiêu hoá, chất chứa màu vàng lợn cợn và nhiều bọt, thành ruột mỏng (100%), các cơ quan nội tạng như hạch màng treo ruột xuất huyết (73,91%), gan sưng (58,69%), túi mật căng to (65,21%), phổi sưng tụ huyết (71,74%), lách sưng xung huyết (63,04%).</p> <p><strong>ABSTRACT</strong></p> <p>The study was conducted to determine the presence of PEDV virus in piglets, thereby determining the pathological characteristics of piglets infected with PEDV in some localities of Thanh Hoa province. Sixty piglets from 1 to 4 week old were suspected to have infected with PEDV in Thanh Hoa province. The RT-PCR was used to confirm porcine epidemic diarrhea virus. The research results showed that the proportion of positive samples were high such as 76.67% was in small intestine and mesenteric lymph node and 51.67% was in fecal samples. The main clinical signs of PED included weakness, depression, and loose, fishy and yellow diarrhea; huddling together, laying on the sow (100%), losing weight rapidly (82.60%), drinking plenty of water (60.86%) and hypothermia (54.34%). The autopsies showed skinny dead carcasses, wrinkled skin, and loose, fishy, and yellow diarrhea, sticky anus (100%); stomach containing curd and undigested food (100%), thinness of the wall of small intestine and watery yellow translucent content in small intestine (100.0%), internal organs such as thyperemia and hemorrhage of mesenteric lymph nodes (73.91%), swollen liver (58.69%), gallbladder enlargement (65.21%), pneumonia (71.74%) and splenic congestion (63.04%).</p> Lương Trọng Thắng Vũ Đức Việt Đặng Lan Anh ##submission.copyrightStatement## 2020-08-17 2020-08-17 4 2 1922 1927 10.46826/huaf-jasat.v4n2y2020.446 BIỂU HIỆN LÂM SÀNG VÀ MỘT SỐ CHỈ TIÊU SINH LÝ MÁU CỦA LỢN MẮC DỊCH TIÊU CHẢY CẤP (PORCINE EPIDEMIC DIARRHEA - PED) NUÔI TẠI TỈNH THANH HOÁ http://tapchi.huaf.edu.vn/index.php/id20194/article/view/448 <p>Nghiên cứu nhằm xác định những biểu hiện lâm sàng và một số đặc điểm sinh lý máu của lợn mắc hội chứng tiêu chảy cấp (Porcine Epidemic Diarrhea - PED) để so với lợn khỏe nuôi tại một số trang trại thuộc tỉnh Thanh Hóa. Kết quả nghiên cứu cho thấy: khi lợn mắc dịch PED tần số hô hấp và tần số mạch cao hơn (45,13 và 138,19 lần/phút so với 23,74 và 95,31 lần/phút) trong khi thân nhiệt lại thấp hơn so với lợn khỏe (37,50 và 38,170C). Số lượng hồng cầu của lợn mắc PED và lợn khỏe không sai khác có ý nghĩa thống kê (6,58 - 6,61 triệu/ mm3). Trong khi, các chỉ tiêu như hemoglobin, lượng hemoglobin trung bình trong một hồng cầu (MCH), nồng độ hemoglobin trung bình (MCHC) của lợn khỏe đều cao hơn so với lợn mắc PED. Tổng số bạch cầu và tỷ lệ các loại bạch cầu trung tính cao hơn so với lợn khỏe.</p> <p><strong>ABSTRACT</strong></p> <p>The study was conducted to determine clinical manifestations and some blood hematological parameters of pigs infected with Porcine Epidemic Diarrhea (PED) to compare with healthy pigs raised in Thanh Hoa province. The research results showed that respiratory and pulse frequency of pigs infected with PED was higher than healthy pigs. In addition, their body temperature was lower than healthy pigs were. The number of red blood cells of pigs infected with PED and healthy pigs was from 6.58 to 6.61 (106/ mm3). Hemoglobin, mean corpuscular hemoglobin (MCH), mean corpuscular hemoglobin concentration (MCHC) in healthy pigs were higher than PED pigs. Total of white blood count and neutrophils in PED pigs was higher than healthy pigs. The study results are the basis of the initial prognosis for diagnosing PED disease&nbsp; that would be the reference for researchers of livestock and veterinary. &nbsp;</p> Lê Văn Thái Nguyễn Đình Hiệp Lương Trọng Thắng ##submission.copyrightStatement## 2020-08-17 2020-08-17 4 2 1928 1932 10.46826/huaf-jasat.v4n2y2020.448 NGHIÊN CỨU NUÔI VỖ CÁ ONG BẦU RHYNCHOPETALTES OXYRHYNCHUS (TEMMINCK & SCHLEGEL, 1842) BẰNG CÁC KHẨU PHẦN THỨC ĂN KHÁC NHAU TẠI TỈNH THỪA THIÊN HUẾ http://tapchi.huaf.edu.vn/index.php/id20194/article/view/449 <p>Nghiên cứu được thực hiện nhằm đánh giá ảnh hưởng của các loại thức ăn đến sự tăng trưởng và phát dục của cá Ong Bầu, một loài cá nuôi đặc hữu ở vùng đầm phá Thừa Thiên Huế. Thí nghiệm được thiết kế ngẫu nhiên hoàn toàn, gồm 3 nghiệm thức, lặp lại 3 lần: 100% thức ăn cá tạp; 50% thức ăn tươi sống + 50% thức ăn công nghiệp (TACN); và 100% TACN. Các chỉ tiêu nghiên cứu chính gồm: i) Tăng trưởng về khối lượng và chiều dài của cá; ii) Tuổi và khối lượng cá khi thành thục; iii) Tỷ lệ thành thục của cá đực và cái. Kết quả nghiên cứu cho thấy điều kiện môi trường nuôi cửa biển Thuận An bao gồm nhiệt độ, hàm lượng oxy hoà tan (DO), pH, độ mặn, độ kiềm và N-NH3 mặc dù có biến động nhưng vẫn hoàn toàn thích hợp cho sự sinh trưởng và phát triển của cá. Khẩu phần ăn hoàn toàn bằng cá tạp được ghi nhận là phù hợp nhất đối với cá Ong Bầu với các kết quả về chỉ tiêu tăng trưởng, thành thục ở cá đực và cái cao hơn so với các nghiệm thức khác ở mức có ý nghĩa thống kê (p&lt;0,05). Đồng thời, tỷ lệ thành thục của cá Ong Bầu được ghi nhận là đạt giá trị cao nhất ở cả ba nghiệm thức thí nghiệm vào tháng 7 và tháng 8 trong quá trình nuôi vỗ.</p> <p><strong>ABSTRACT</strong></p> <p>The study was conducted to determine the effect of feed types on the growth and reproductive performance of Rhynchopelates&nbsp;oxyrgynchus&nbsp;(Temminck &amp; Schlegel, 1842), an endemic fish species in the lagoon of Thua Thien Hue province. The experiment was completely randomized designed with 3 following treatments and 3 replications: 100% trash fish; 50% of trash fish + 50% of commercial feed; and 100% commercial feed. The main research contents include: i) Fish growth peformance; ii) Age structure and body weight of the first matured fish; iii) Maturity ratio of male and female targeted fishes. The results showed that the environmental conditions in Thuan An estuarine including temperature, dissolved oxygen (DO), pH, salinity, alkalinity and N-NH3 were perfectly suitable for experiment fishes’ growth and development. The diet of 100% trash fish have been found to be the most suitable diet for the experiment fishes indicated in higher growth and maturation of both the male and female targeted fishes compared to the fishes in other studied diets. At the same time, maturity ratio of the fish in all three treatments was recorded to be the highest achivement in July and August.</p> Lê Văn Dân Ngô Hữu Toàn ##submission.copyrightStatement## 2020-08-17 2020-08-17 4 2 1933 1939 10.46826/huaf-jasat.v4n2y2020.449 ĐẶC ĐIỂM CẤU TRÚC VÀ SINH TRƯỞNG RỪNG TRỒNG KEO LƯỠI LIỀM (Acacia crassicarpa A.Cunn. ex Benth.) TẠI TỈNH BÌNH THUẬN http://tapchi.huaf.edu.vn/index.php/id20194/article/view/451 <p>Trong những năm gần đây, Keo lưỡi liềm được đưa vào trồng trên các vùng cát ven biển tại Bình Thuận nhằm hạn chế tình trạng sa mạc hóa, duy trì nguồn nước ổn định, chặn đứng nạn cát bay, cát nhảy ở vùng này và thực tế cho thấy loài cây này đã sinh trưởng và phát triển tốt. Bài viết này công bố những kết quả nghiên cứu về cấu trúc và sinh trưởng của rừng trồng keo lưỡi liềm tại Bình Thuận. Nghiên cứu áp dụng phương pháp lập 60 ô tiêu chuẩn (otc) điển hình trên đối tượng rừng trồng keo lưỡi liềm tại Bình Thuận. Kết quả nghiên cứu cho thấy, phân bố số cây theo cỡ đường kính ngang ngực và đường kính tán có dạng một đỉnh lệch trái trong khi đó phân bố số cây theo chiều cao có dạng đỉnh lệch phải và được mô phỏng tốt bằng hàm Weibull. Quá trình sinh trưởng về đường kính thân (D1,3), chiều cao (Hvn), đường kính tán (Dt), thể tích (V) và trữ lượng (M) được mô tả rất tốt bằng hàm Schumacher. Các phương trình sinh trưởng như sau:<br><img src="/public/site/images/tapchidhnl/Nguyen_Van_Viet_Cong_thuc1.png"></p> <p><strong>ABSTRACT</strong></p> <p>In recent years, <em>Acacia crassicarpa</em> A. Cunn.ex Benth. has been planted in the coastal sandy areas of Binh Thuan province to prevent desertification, maintain the water source, stop the flying sand, giving good results. The research results of the study presented the growth and the growth rate of the forest plantation of <em>Acacia crassicarpa </em>A. Cunn.ex Benth. We set up 60 particularly random sample plots on the <em>Acacia crassicarpa</em> plantation. The results showed that the distribution of diameter at breast height (N%/D<sub>1.3</sub>) and crown diameter (N%/D<sub>t</sub>) were left skewed peak distributions while the distribution of tree height (N%/H<sub>VN</sub>) was a right skewed peak distribution and were well-simulated by Weibull distribution. The growth of <em>Acacia crassicarpa</em> plantation was modeled by Schumacher function, growth function as follows:</p> <p><img src="/public/site/images/tapchidhnl/Nguyen_Van_Viet_Cong_thuc2.png"></p> Nguyễn Văn Việt Phan Thị Thanh Thủy Lê Châu Thành ##submission.copyrightStatement## 2020-08-17 2020-08-17 4 2 1940 1950 10.46826/huaf-jasat.v4n2y2020.451 KẾT QUẢ CỦA MÔ HÌNH NUÔI GHÉP CÁ VƯỢC (Lates calcarifer) VỚI CÁ TRẮM ĐEN (Mylopharyngodon piceus) TRONG AO ĐẤT TẠI XÃ LẬP LỄ, HUYỆN THỦY NGUYÊN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG http://tapchi.huaf.edu.vn/index.php/id20194/article/view/452 <p>Mô hình nuôi ghép cá Vược với cá Trắm đen được thực hiện từ tháng 3 năm 2018 đến tháng 2 năm 2019 tại 3 hộ gia đình ở xã Lập Lễ, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng. Mục tiêu của nghiên cứu nhằm xác định tốc độ tăng trưởng và tỷ lệ sống của cá Vược và cá Trắm đen, từ đó đánh giá hiệu quả kinh tế của mô hình. Cá được thả với mật độ 1,2 con/m<sup>2</sup>, tỷ lệ thả của cá Vược: cá Trắm đen là 4,6:1 với kích cỡ cá thả của cá Vược và cá Trắm đen tương ứng là 1,10 ± 0,12 kg/con và 1,57±0,18 kg/con. Thức ăn sử dụng cho cá Vược là cá tạp với lượng thức ăn bằng 3-5% tổng khối lượng cá, thức ăn công nghiệp (35% protein thô) được sử dụng cho cá Trắm đen với khối lượng bằng 2-3% tổng khối lượng cá. Kết quả cho thấy tốc độ tăng trưởng trung bình, tỷ lệ sống và FCR của cá Vược tương ứng là 6,15g/con/ngày, 93% và 7,2; của cá Trắm đen là 8,17g/con/ngày, 95% và 2,92. Chi phí cho thức ăn là chi phí lớn nhất, chiếm 54,02% tổng chi phí; thuốc và chế phẩm vi sinh chiếm một phần không đáng kể (2,68%) trong tổng chi. Hiệu quả kinh tế của các mô hình đạt hơn 886 triệu đồng/ha/năm.</p> <p><strong>ABSTRACT</strong></p> <p>The polyculture model of sea bass and back carp in earthen pond was conducted in 03 households in Lap Le commune, Thuy Nguyen district, Hai Phong city from March 2018 to February 2019. The objective of the study is to determine the growth rate and survival rate of sea bass and black carp, thereby evaluating the economic efficiency of the model. The stocking density was 1.2 fish.m<sup>-</sup><sup>2</sup> with the ratio of sea bass:black carp was 4,6:1. Initial body weight of sea bass was 1.10 ± 0.12 kg.fish<sup>-1</sup> and black carp was 1,57 ± 0,18 kg.fish<sup>-1</sup>. Feed used for sea bass and black carp was trash fish and industrial feed (35% crude protein), respectively. Feeding level was 3-5% and 2-3% of total body weight for sea bass and black carp, respectively. The results showed that average growth rate, survival rate and FCR of sea bass and black carp were 6,15g.fish<sup>-1</sup>.day<sup>-1</sup>, 93%, 7,2 and 8,17g.fish<sup>-1</sup>.day<sup>-1</sup>, 95%, 2,92, respectively. Expense for feed was the largest cost, accounting for 54,02% of the total; especially the cost of medicine and probiotics was an inconsiderable part in these models (2,68%). Economic efficiency of the models gained more than 886 million VND.ha<sup>-1</sup>.year<sup>-1</sup></p> Kim Văn Vạn Trần Ánh Tuyết Nguyễn Thị Diệu Phương ##submission.copyrightStatement## 2020-08-17 2020-08-17 4 2 1951 1959 10.46826/huaf-jasat.v4n2y2020.452 ĐẶC ĐIỂM PHÂN BỐ, MỨC ĐỘ TÁC ĐỘNG VÀ CON ĐƯỜNG PHÁT TÁN CỦA LOÀI BÌM BÔI HOA VÀNG (Merremia boisiana) TẠI HUYỆN A LƯỚI TỈNH THỪA THIÊN HUẾ http://tapchi.huaf.edu.vn/index.php/id20194/article/view/350 <p><strong>ABSTRACT</strong></p> <p>Bim boi hoa vang (<em>Merremia boisiana</em>) becomes more abundant in A Luoi district, Thua Thien Hue province. This study identified the distribution of the species impacts on the habitats, and the dispersal paths. Through transect and standard plot surveys, we identified 12 species, of which 5 invasive alien species and 7 highly invasive plant species. Among these 12 species, Bim boi hoa vang has the highest impact on the habitat. They appears in most of the habitats, except for the pristine and rich forests. Distributing in clusters, they are mainly mature trees with an average root diameter of 4 - 5cm, main body length of about 20 - 30 m. They are creating a double repercussion that benefits themselves and harmful to the other species within the habitat. They significantly reduced the &nbsp;number of prospective trees. They can also create other adverse conditions such as doubling the fallen branches and leaves; increasing 3 times the difference in light amplitude; increasing the ratio of secondary organisms and decomposing up to 3 - 4 times higher than in uncovered places. This species can be dispersed by wind, water, animals, human activity and self-dispersing, most feasible by the wind.</p> Nguyễn Hợi Trần Minh Đức Trần Nam Thắng Hồ Đăng Nguyên Đinh Diễn ##submission.copyrightStatement## 2020-08-17 2020-08-17 4 2 1960 1969 10.46826/huaf-jasat.v4n2y2020.350 ĐÁNH GIÁ TÍNH TỔN THƯƠNG VỀ SINH KẾ CỦA NÔNG HỘ VÙNG GIÁP BIÊN GIỚI TỈNH AN GIANG TRƯỚC SỰ THAY ĐỔI LŨ Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG http://tapchi.huaf.edu.vn/index.php/id20194/article/view/455 <p>Nghiên cứu được thực hiện nhằm đánh giá hiện trạng về tính tổn thương sinh kế của nông hộ vùng lũ giáp biên giới của đồng bằng sông Cửu Long trong bối cảnh ảnh hưởng của sự thay đổi lũ ở thượng nguồn sông MeKong. Nghiên cứu áp dụng phương pháp phân tích thứ bậc AHP (Analytic Hierarchy Process) để xác định chỉ số tổn thương về sinh kế SVI (Social vulnerability index) của nông hộ theo 5 nguồn vốn sinh kế của khung phân tích sinh kế DFID (1999). Nghiên cứu sử dụng bộ công cụ đánh giá có sự tham gia của cộng đồng PRA (Participatory Rural Appraisals) để thu thập thông tin của 106 mẫu khảo sát ở huyện An Phú và Tịnh Biên tỉnh An Giang để phục vụ cho nghiên cứu, đại diện cho vùng lũ giáp biên giới ở đồng bằng sông Cửu Long. Kết quả cho thấy, hiện trạng tính tổn thương về sinh kế của nông hộ trước sự thay đổi của lũ tại vùng lũ giáp biên giới của đồng bằng sông Cửu Long ở mức thấp (SVI (Tịnh Biên) = 0,23; SVI (An Phú) = 0,38) trước sự thay đổi lũ ở thượng nguồn. Thực tế, còn nhiều yếu tố hạn chế của các nguồn vốn sinh kế cần cải thiện; trong đó, các nguồn vốn về con người, tài chính và tự nhiên là yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến sinh kế của nông hộ tại vùng lũ giáp biên giới ở đồng bằng sông Cửu Long.</p> <p><strong>ABSTRACT</strong></p> <p>The study aimed to assess the livelihood vulnerability of households in the border floodplain area in the context of the flooding in the Vietnamese Mekong Delta. The study applied the analytic hierarchy process (AHP) method to assess the livelihood vulnerability via the social vulnerability index (SVI) of households according to 5 livelihood assets of the DFID framework (1999). The study used the participatory rural appraisal (PRA) tool to collect data of 106 people for research in An Phu and Tinh Bien districts in An Giang province, representing border floodplain areas in the VMD. The results showed that the current vulnerability of households' livelihoods in the border floodplain of the Vietnamese Mekong Delta was under average according to the AHP hierarchical analysis method (SVI (Tinh Bien) = 0,23, SVI (An Phu) = 0,38). In reality, there were still many weak factors in the livelihood assets in which the human, financial, and natural capitals were important factors impacted the livelihood of households in border floodplain of the Vietnamese Mekong Delta.</p> Hồng Minh Hoàng Phạm Đặng Mạnh Hồng Luân Nguyễn Thanh Bình Trần Thị Mai Trinh Trần Kim Hương Văn Phạm Đăng Trí Lâm Thành Sỹ ##submission.copyrightStatement## 2020-08-17 2020-08-17 4 2 1970 1980 10.46826/huaf-jasat.v4n2y2020.455 THỰC TRẠNG SỬ DỤNG ĐẤT VÀ SINH KẾ CỦA NGƯỜI DÂN SAU KHI TÁI ĐỊNH CƯ ĐỂ XÂY DỰNG THỦY ĐIỆN BÌNH ĐIỀN TẠI THỪA THIÊN HUẾ http://tapchi.huaf.edu.vn/index.php/id20194/article/view/456 <p>Đề tài nghiên cứu nhằm làm rõ được thực trạng sử dụng đất và sinh kế của người dân tái định cư để có cơ sở đề xuất giải pháp bố trí đất đai hợp lý cho việc phát triển sinh kế của người dân tái định cư thủy điện Bình Điền. Các phương pháp nghiên cứu đã sử dụng bao gồm: điều tra thu thập số liệu thứ cấp, sơ cấp; phỏng vấn chuyên gia và người am hiểu thông tin; phỏng vấn hộ gia đình; phỏng vấn sâu và phương pháp xử lý số liệu. Kết quả nghiên cứu cho thầy việc di dân, tái định cư trong xây dựng thủy điện vừa đem lại những tác động tích cực như người dân tiếp cận cơ sở hạ tầng tốt và dịch vụ tốt hơn, nhưng khó khăn lớn nhất của đồng bào dân tộc thiểu số bị di dời là khôi phục và phát triển sản xuất thời kỳ hậu tái định cư khi mà đất đai mà người dân có thể tiếp cận rất ít hơn rất nhiều so với nơi ở cũ, đặc biệt là đất sản xuất nông nghiệp. Theo ý kiến của người dân tái định cư, ckhông phù hợp với các loại cây trồng truyền thống như sắn địa phương, lúa nương, ngô địa phương, và cây ăn quả có múi. Bài học kinh nghiệm là cần phải tính toán giao quỹ đất sản xuất trước khi di dời nếu không sau khi tái định cư hầu hết các hộ gia đình không được giao thêm đất sản xuất do quỹ đất này hiện nay đã giao ổn định cho cá nhân, tổ chức khác. Cần có chương trình đào tạo nghề và chuyển đổi nghề nghiệp cho thanh niên để thích ứng với điều kiện sống khi về nơi ở mới tại khu tái định cư tập trung.</p> <p><strong>ABSTRACT</strong></p> <p>The research project aims to clarify the current land use and livelihoods of resettled people for proposing reasonable land allocation solutions to the livelihood development of resettled people for the construction of Binh Dien hydropower. The research methods used the secondary and primary data collection survey; interviews of experts and key information people; household interviews; In-depth interviews and data processing methods. Research results showed that the displacement and resettlement in hydroelectricity construction have brought about positive impacts such as people have better access to infrastructure and better services, but the biggest difficulty of the displaced ethnic minorities is to restore and develop agricultural production in the post-resettlement period when the land that people can access is much less than the old place, especially agricultural land. The soil quality is not compatible with traditional crops such as local cassava, upland rice, local maize, and citrus. Lesson learned is that it is necessary to calculate the allocation of productive land fund before relocating otherwise after relocation most of the households are not allocated an additional productive land because this land fund is now being allocated stably to other individuals and companies. It is necessary for young people to have vocational transition training programs to adapt to living conditions at the new places in concentrated resettlement areas.</p> <p>&nbsp;</p> Phạm Hữu Tỵ Phạm Minh Hiếu Trần Trọng Tấn ##submission.copyrightStatement## 2020-08-17 2020-08-17 4 2 1981 1992 10.46826/huaf-jasat.v4n2y2020.456