http://tapchi.huaf.edu.vn/index.php/id20194/issue/feed Tạp chí Khoa học và công nghệ nông nghiệp, Trường Đại học Nông Lâm Huế 2018-08-01T03:40:06+00:00 Ban biên tập Tạp chí tapchidhnl@huaf.edu.vn Open Journal Systems Tạp chí Khoa học và công nghệ nông nghiệp, trường Đại học Nông Lâm Huế http://tapchi.huaf.edu.vn/index.php/id20194/article/view/166 Xác định khả năng chịu mặn và một số tính chất có tiềm năng probiotic của các chủng vi khuẩn lactic thuộc loài lactobacillus fermentum phân lập từ ruột cá nục (decapterus lajang) 2018-07-31T09:25:50+00:00 Đỗ Thị Bích Thủy dothibichthuy@huaf.edu.vn Nguyễn Thị Diễm Hương tapchi@huaf.edu.vn <p>Tám chủng vi khuẩn lactic phân lập từ ruột cá nục (Decapterus lajang) (CN) (NU1, NU2, NU3, NU7, NU8, NU17, NU18, NU21) thuộc loài Lactobacillus fermentum được tiến hành khảo sát khả năng chịu mặn. Kết quả cho thấy rằng tất cả các chủng khảo sát đều có thể phát triển trong các nồng độ muối khảo sát từ 5% đến 25% với thời gian ủ 48 giờ. Trong đó, chủng NU17 có khả năng chịu mặn cao nhất, OD600nm đo được sau khi ủ chủng NU17 trong 48 giờ với nồng độ muối 25% là 0,1809. Chủng này được chọn để xác định một số tính chất có tiềm năng probiotic là khả năng chịu axit và khả năng tự kết dính. Số tế bào sống sót của chủng NU17 sau hai giờ ủ ở pH 2 là 4,895 log CFU/ml. Khả năng tự kết dính của chủng NU17 là 36,58%.</p> <p><strong>ABSTRACT</strong><br>Eight lactic acid bacteria strains isolated from gut of Pompano (NUs) (NU1, NU2, NU3, NU7, NU8, NU17, NU18, NU21) belong to Lactobacillus fermentum were studied on the salt intolerance. The results showed that all of the strains could grow in the medium with from 5% to 25% of NaCl for 48 hours of incubation at room temperature. A strain NU17 had highest salt intolerance. OD600nm values after 48 hours of incubation in medium contained 25% of NaCl at room temperature of NU17 strain were 0.1806. This strain was then selected to study on some properties of probiotic potential, acid intolerance and auto-aggregation. The number of survival cells of NU17 strain after two hours of incubation at pH 2 was 4.895 log CFU/ml. The auto-aggregation of them was 36,58%.</p> 2018-07-31T09:25:49+00:00 ##submission.copyrightStatement## http://tapchi.huaf.edu.vn/index.php/id20194/article/view/165 Đánh giá chất lượng phân hữu cơ được làm từ vỏ quả sầu riêng tại huyện trảng bom, tỉnh Đồng Nai 2018-08-01T02:54:28+00:00 Phan Thị Thanh Thủy thanhthuymt33@yahoo.com Nguyễn Văn Việt tapchi@huaf.edu.vn <p>“Đánh giá chất lượng phân hữu cơ được làm từ vỏ quả sầu riêng tại huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai” được thực hiện với mục đích tận dụng, tái chế phế phẩm, tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình ủ phân và chất lượng của sản phẩm phân hữu cơ sau khi ủ nhằm giảm tác hại đến môi trường và giảm chi phí sản xuất nông nghiệp cho người dân. Nghiên cứu được dựa trên phương pháp thu và phân tích mẫu theo APHA, 1998 và Andrew, D.E, S.C., Lenore, E.G., Arnold, 1995. Sau 51 ngày ủ phân hữu cơ với vật liệu vỏ quả sầu riêng gồm mô hình có bổ sung bùn hoạt tính và bổ sung chế phẩm sinh học Trichoderma cho thấy quá trình phân hủy hiếu khí diễn ra khá tốt. Kết quả nghiên cứu vỏ quả sầu riêng sau khi bổ sung chế phẩm sinh học Trichoderma cho chất lượng phân hữu cơ tốt nhất, nhiệt độ trong khối ủ dao động trong khoảng 23,50C – 56,60C, pH dao động từ 5,8 – 7,1, độ ẩm dao động từ 45,2% – 57,3%. Tỷ lệ N:P:K = 1,34%:2,21%:1,09%. Nghiên cứu đã kiểm tra khả năng nảy mầm, sinh trưởng, phát triển của hạt đậu xanh trên sản phẩm phân vừa ủ xong, kết quả hạt đậu xanh đã nảy mầm bình thường và phát triển tương đối tốt trên sản phẩm ủ được.</p> <p><strong>ABSTRACT</strong><br>“Assess the quality of compost made from durian shells in Trang Bom district, Dong Nai province” was done for the purpose of leverage, recycled waste; learning the factors affecting the composting process and the quality of the compost after composting to reduce harm to the environment and reducing agricultural production costs for farmers. The study was based on the method of collecting and analyzing samples according to APHA, 1998; Andrew, D.E., S.C., Lenore, E.G., Arnold, 1995. After 51 days study with input materials were durian shells with models with actived sludge containing and Trichoderma supplement show that the process of aerobic decomposition is quite good. From the results of durian shells with Trichoderma supplement and the best rate of composting, temperature ranges from 23,50C – 56,60C, pH ranges from 5,8 – 7,1, humidity ranges from 45,2% – 57,3%, N:P:K = 1,34%:2,21%:1,09%. The study examined the ability of green pea sprouting on both products produced compost, green pea results have emerged normal childhood development and relatively well on the compost.</p> <p>&nbsp;</p> 2018-08-01T02:54:27+00:00 ##submission.copyrightStatement## http://tapchi.huaf.edu.vn/index.php/id20194/article/view/164 Nghiên cứu ảnh hưởng của Na2SO3 đến sinh trưởng phát triển và năng suất lúa vụ hè thu tại Quảng Nam 2018-08-01T02:58:30+00:00 Nguyễn Đình Thi nguyendinhthi@huaf.edu.vn Phan Hồng Trí tapchi@huaf.edu.vn <p>Nghiên cứu của chúng tôi gồm 3 thí nghiệm bố trí theo phương pháp khối hoàn toàn ngẫu nhiên, được tiến hành trên giống lúa KD18 trong vụ Hè Thu 2017 tại thôn Trung Đàn, xã Tam Đại, huyện Phú Ninh, tỉnh Quảng Nam nhằm xác định ảnh hưởng của chất ức chế hô hấp sáng Na2SO3 đến sinh trưởng phát triển và năng suất lúa. Kết quả mới của nghiên cứu này là: 1) Phun Na2SO3 đã có tác dụng tốt đến các chỉ tiêu sinh trưởng phát triển, tích lũy chất khô, hệ số kinh tế và năng suất lúa KD18 trong vụ Hè Thu 2017 tại Phú Ninh, Quảng Nam ở cả 3 thời kỳ thí nghiệm là đẻ nhánh, làm đòng và kết thúc trổ; 2) Phun Na2SO3 300 ppm vào thời kỳ đẻ nhánh đã tăng năng suất thực thu 6,0% so đối chứng, cho lãi tăng 1,75 triệu đồng/ha và VCR đạt 5,84; 3) Tại thời kỳ làm đòng hoặc kết thúc trổ, phun Na2SO3 300 - 400 ppm đã có tác dụng tăng năng suất và hiệu quả kinh tế cao hơn đối chứng và các nồng độ khác. Phun vào thời kỳ làm đòng tăng năng suất thực thu 6,1 - 8,4% so đối chứng, lãi tăng 1,79 - 2,57 triệu đồng/ha và VCR đạt 5,94 - 7,96. Phun vào thời kỳ kết thúc trổ năng suất thực thu tăng 4,6 - 6,9% so đối chứng, lãi tăng 1,24 - 2,07 triệu đồng/ha và VCR đạt 4,36 - 6,73.</p> <p><strong>ABSTRACT</strong><br>This research includes three experiments arranged in a completely randomized block design on KD18 rice variety in Summer - Autumn season at Tam Dai commune, Phu Ninh district, Quang Nam province aiming at determine the effect of light respiration inhibitor Na2SO3 on growth, development and yield of rice. The new of this research results were indicated that: 1) Spraying Na2SO3 had good effect on growth, dry matter accumulation, economic efficiency and yield of KD18 rice variety in 2017 Summer - Autumn in Quang Nam province. Spraying Na2SO3 in seedling period and/or flowering period were better than after flowering period; 2) Spraying with 300 ppm Na2SO3 at tillering time increased the yield by 6.0% compared to the control, yielding an increase of 1.75 million VND/ha and VCR = 5.84; 3) Spraying Na2SO3 300 - 400 ppm at flowering time and/or after flowering time were give higher yield and income than control and other treatments. At flowering time, the yield was increased up to 6.1 – 8.4% and profit increased 1.79 - 2.57 million VND/ha when compared to control, VCR = 5.94 - 7.96. At after flowering time, the yield was increased up to 4.6 - 6.9% and profit increased 1.24 - 2.07 million VND/ha when compared to control, VCR = 4.36 - 6,73.</p> <p>&nbsp;</p> 2018-08-01T02:58:29+00:00 ##submission.copyrightStatement## http://tapchi.huaf.edu.vn/index.php/id20194/article/view/163 Đánh giá hiệu lực vaccine phòng dại trên chó nuôi tại huyện Minh Hóa, tỉnh Quảng Bình 2018-08-01T03:03:20+00:00 Phan Ngọc Tuyết tapchi@huaf.edu.vn Nguyễn Thị Mỹ Trinh tapchi@huaf.edu.vn Phạm Thị Thanh Thúy tapchi@huaf.edu.vn Phạm Hồng Sơn sonphdhnl@huaf.edu.vn <p>Nghiên cứu ở huyện miền núi Minh Hóa, tỉnh Quảng Bình bằng xét nghiệm ngăn trở ngưng kết hồng cầu (HI) đã cho thấy vaccine được chỉ định sử dụng tại địa bàn có chất lượng phù hợp, đã nâng tỷ lệ chó mang kháng thể từ 46,25% lên 93,75% (P~0), tỷ lệ bảo hộ từ 32,92% lên 75,83% (P~0), tương ứng với cường độ miễn dịch từ 3,37 HI lên 13,97 HI, đồng thời cho thấy tỷ lệ chó được bảo hộ sau đợt tiêm vaccine dại vụ cuối xuân năm 2017 theo quy định thấp dưới mức cần thiết. Đáp ứng miễn dịch được cảm ứng bởi tiêm vaccine khảo sát không phụ thuộc vào địa bàn nuôi và tính biệt của chó nhưng mức độ đáp ứng ở nhóm giống chó ngoại và lai ngoại cao hơn nhóm chó giống nội. Cũng từ đàn chó đó, xét nghiệm virus dại trong nước bọt bằng SSDHI đã cho thấy 3 trong số 154 chó chưa tiêm vaccine lần nào (1,9%) từ 240 chó ở đợt trước tiêm khảo sát (1,25%), nhưng không phát hiện được chó mang virus trong số chó đã được tiêm vaccine dại ít nhất một lần trong quá khứ, đồng thời, giết hủy chó có phản ứng SSDHI dương tính đã dẫn đến sự vắng mặt các cá thể chó có nước bọt mang virus dại trong quần thể. Như vậy, tiêm vaccine phòng bệnh dại phối hợp xét nghiệm và giết hủy chó mang virus dại có thể là biện pháp hữu hiệu trong việc thanh toán bệnh dại.</p> <p><strong>ABSTRACT</strong><br>This research, implemented in mountainous district Minh Hoa of Quang Binh province with the techniques of Haemagglutination Inhibition (HI) showed that the vaccine nominated for the area was qualitatively suitable, elevating antibody-positive dog rates from 46.25% to 93.75% (P~0), protection rate from 32.92% to 75.83% (P~0), correspondingly immune intensities from 3.37 HI to 13.93 HI, at the same time indicating inadequately low rates of protected dogs after the annual 2017 spring end vaccination campaign. Immune responses induced by the vaccine did not depend on localities of rearing and sexes of dogs, but the levels of immune responces in dogs of exotic and cross breeds were higher than those in domestic ones. Meanwhile, the technique of Shifting Assay of Standardized Direct Haemagglutination Inhibition (SSDHI) applied for detection of rabies antigen in saliva fluids showed 3 amongst 154 unvaccinated dogs (1.9%) of 240 examined dogs in the period before the appointed verification anti-rabies vaccination (1.25%), and no dog carrying the virus in its saliva fluid amongst those that had been vaccinated at least once in the past, and possibly killing SSDHI-positive dogs led to the absence of virus-carrying dogs in population. Thus, detecting virus in dogs’ saliva and killing all virus-carriers in combination with regular anti-rabies vaccination could help eliminate rabies.</p> <p>&nbsp;</p> 2018-08-01T03:03:19+00:00 ##submission.copyrightStatement## http://tapchi.huaf.edu.vn/index.php/id20194/article/view/162 Nghiên cứu thuần hóa cá ong bầu (rhynchopelates oxyrhynchus temminck & schlegel, 1842) phục vụ sinh sản nhân tạo ở vùng đầm phá Thừa Thiên Huế 2018-08-01T03:04:17+00:00 Lê Minh Tuệ leminhtue@huaf.edu.vn Nguyễn Tử Minh nguyentuminh@huaf.edu.vn Trương Văn Đàn truongvandan@huaf.edu.vn <p>Nghiên cứu thuần hóa cá Ong bầu nhằm mục tiêu xác định ngưỡng điều kiện môi trường phục vụ cho việc thuần hóa cá bố mẹ Ong bầu đạt kết quả tốt. Thời gian thực hiện từ 5/1 – 8/5/2016. Cá Ong bầu phục vụ thí nghiệm được thu mua chủ yếu ở xã Quảng Công và thị trấn Thuận An. Các yếu tố môi trường theo dõi bao gồm nhiệt độ, hàm lượng oxy hoà tan (DO), pH, độ mặn và loại thức ăn ưa thích của cá. Kết quả cho thấy cá tạp là loại thức ăn ưa thích nhất cho cá Ong bầu, với tỷ lệ điểm đạt cao nhất vào ngày thứ 5, với thức ăn công nghiệp thì tỉ lệ điểm cao nhất đạt vào ngày thứ 7. Ngưỡng nhiệt độ chịu đựng của cá khá cao, dao động từ 16 ÷ 340C. Đối với pH môi trường nuôi thì ngưỡng giá trị trên và dưới gây chết cá là 4,5 và 9,5. Độ mặn thích hợp cho sinh trưởng và phát triển của cá Ong bầu trong khoảng từ 5 ÷ 35‰, hiện tượng cá chết được ghi nhận với độ mặn môi trường nuôi 0‰.</p> <p><strong>ABSTRACT</strong><br>The experimental domestication of (Rhynchopelates oxyrhynchus Temminck &amp; Schlegel, 1842) to determine threshold environmental conditions, serving domestication broodstock fish have a good result. The period time of experiments conducted 5/1- 8/5/2016. Broodstock fish collected from two main areas (Quang Cong commune and Thuan An town). The monitor environmental factors including temperature, dissolved oxygen, pH, salinity and favourable feed. The results showed that trash fish was the favourable feed of Rhynchopelates oxyrhynchus, with the highest score peaked at day 5. Smilarly, artificial pellet was reached highest score at day 7. The temperature threshold was wide with a range of 16 ÷ 340C, meanwhile the values for pH was recorded at 4.5 ÷ 9.5. The favourable salinity for the growth of Ong bau ranged from 5 to 35‰. Noticeably, the mortal phenomenon of Ong bau started at 0‰ of salinity.</p> 2018-08-01T03:04:16+00:00 ##submission.copyrightStatement## http://tapchi.huaf.edu.vn/index.php/id20194/article/view/161 Đánh giá tình hình đăng ký giao dịch bảo đảm bằng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng giai đoạn 2011 – 2016 2018-08-01T03:12:39+00:00 Phạm Thị Triều Tiên phamthitrieutien@huaf.edu.vn Nguyễn Thị Hải nguyenthihai@huaf.edu.vn <p>Nghiên cứu thực hiện nhằm đánh giá tình hình đăng ký giao dịch bảo đảm bằng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng trong giai đoạn 2011 - 2016. Bằng phương pháp thu thập và xử lý các số liệu liên quan đến đăng ký giao dịch bảo đảm, nghiên cứu đã chỉ ra một số kết quả. Cụ thể: (i) Giai đoạn 2011 - 2016, quận Cẩm Lệ có 31.436 hồ sơ giao dịch bảo đảm bằng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất; (ii) Có 4 loại hình giao dịch được thực hiện trong đó đăng ký thế chấp và xóa thế chấp có số lượng hồ sơ nhiều nhất; (iii) Các đăng ký được diễn ra tại tất cả các phường của quận Cẩm Lệ và tập trung chủ yếu ở phường Hòa Xuân và Hòa An; (iv) Có 92,13% tổng hồ sơ đăng ký được thực hiện cho đất ở tại đô thị, còn lại là đất sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp; (v) Người dân đánh giá tốt về trình tự thủ tục, thời gian giải quyết hồ sơ cũng như thái độ, tác phong của cán bộ chuyên môn tại quận Cẩm Lệ. Tuy nhiên, vẫn có một số ý kiến cho rằng người đi đăng ký còn phải đi lại nhiều lần và mức lệ phí thực hiện đăng ký giao dịch bảo đảm là tương đối cao.</p> <p><strong>ABSTRACT</strong><br>This research was conducted in Cam Le district, Da Nang basing on assessment the security transactions registration by land use rights and assets associated with land use rights in the period of 2011 - 2016. Depending on collecting and analyzing method, result of the research shows that: (i) From 2011 to 2016, there are 31.446 profiles about security transactions registration that was solved; (ii) There are 4 types of secured transactions were conducted but the number of mortgage registration and mortgage cancellation profile are majority; (iii) Almost the case focusing on Hoa Xuan and Hoa An ward; (iv) There is 92.13% the number of registration documents secured by land use rights and assets attached belonged to urban residential land and only 7.87% the dossiers belonged to the land for non- agricultural production and business; (v) In general, the work efficiency, attitudes, and behaviors of staff who perform the registration of secured transactions is relatively high. However, there are some ideas show that the applicant has to travel many times and the fee for registration of secured transactions using land use rights and assets attached to land is relatively high.</p> 2018-08-01T03:12:38+00:00 ##submission.copyrightStatement## http://tapchi.huaf.edu.vn/index.php/id20194/article/view/160 Phân lập, tuyển chọn nấm men và xác định điều kiện ảnh hưởng đến quá trình lên men rượu cà na (Canarium album) 2018-08-01T03:14:34+00:00 Huỳnh Ngọc Thanh Tâm hnttam@huaf.edu.vn Nguyễn Thị Niềm tapchi@huaf.edu.vn Nguyễn Thị Minh Trâm tapchi@huaf.edu.vn Nguyễn Đức Độ tapchi@huaf.edu.vn <p>Cà na (Canarium album) là loại cây trồng phổ biến ở vùng nhiệt đới châu Phi và Nam Á. Tại Việt Nam, cà na được trồng ở nhiều địa phương, quả có vị chua chát và hương thơm đặc trưng. Việc phân lập và tuyển chọn các dòng nấm tốt, đồng thời nghiên cứu lên men rượu cà na góp phần làm đa dạng các sản phẩm lên men từ trái cây và nâng cao giá trị kinh tế của quả cà na. Từ nguồn quả cà na ban đầu của các tỉnh An Giang, Đồng Tháp, Vĩnh Long, Cần Thơ, Hậu Giang, Sóc Trăng (Việt Nam) và Kandal (Campuchia), có 50 dòng nấm men đã được phân lập, chia thành 6 nhóm dựa vào hình dạng tế bào và đặc tính sinh hóa. Kết quả phân lập cho thấy dòng nấm men R2B có khả năng lên men mạnh, sản phẩm rượu có độ cồn cao. Nghiên cứu khảo sát quy trình lên men rượu cà na từ dòng nấm men R2B (được định danh bằng phương pháp giải trình tự là Lachancea fermentati) được thực hiện dựa trên các chỉ tiêu về pH, độ Brix, mật số nấm men và thời gian lên men. Kết quả cho thấy sản phẩm rượu thu được có độ cồn cao (11,29% v/v) và đạt TCVN 7045:2009 trong điều kiện mật số nấm men là 107 TB/mL, dịch lên men được bổ sung đường saccharose đạt 24,01oBrix, pH = 3,88 và lên men rượu ở 30oC trong thời gian 12 ngày.</p> <p><strong>ABSTRACT</strong><br>Canarium album is a popular plant in tropical countries of South Asia and Africa, including Vietnam. Apart from contributing to the diversity of fermented fruit products, the producing products from Canarium album could increase the commercial value of this plant. The objective of this study is to isolate and select healthy yeast strains, study the suitable conditions to make wine from Canarium album fermentation. Fifty yeast strains isolated from the samples were divided into 6 groups, basing on the shape of cell and biochemical characteristics. The isolation shows that the yeast strain R2B (identified by sequencing as Lachancea fermentati) has the strong fermented activity, offering high volume of alcohol. Next, the study about Canarium album wine processing from the yeast strain R2B was conducted basing on various factors, consisting of pH value, Brix, yeast cell density and fermentation time. The findings illustrate that the canarium album wine processing by employing the yeast strain R2B could provide wine products, reaching a high volume of alcohol (11,29% v/v) and matching the the Vietnam standard 7045:2009, in the suitable conditions including the yeast levels of 107 cells/ml, the added saccharose concentration at 24.01oBrix, pH = 3.88 and the fermentation time for 12 days, at 30°C.</p> 2018-07-31T00:00:00+00:00 ##submission.copyrightStatement## http://tapchi.huaf.edu.vn/index.php/id20194/article/view/159 Sử dụng than tràm, than tre, than trấu và than hoạt tính gáo dừa làm giảm tác động của Fenobucarb đến Enzyme Cholinesterase được tách chiết từ cá rô đồng (anabas testudineus) 2018-08-01T03:16:44+00:00 Nguyễn Khoa Nam tapchi@huaf.edu.vn Nguyễn Hữu Chiếm tapchi@huaf.edu.vn Nguyễn Văn Công nvcong@ctu.edu.vn <p>Sử dụng than tràm, than tre, than trấu và than hoạt tính gáo dừa làm giảm tác động của thuốc bảo vệ thực vật chứa hoạt chất Fenobucarb đến enzyme cholinesterase (ChE) ở cá Rô đồng (Anabas testudineus) được thực hiện trong điều kiện phòng thí nghiệm. Dung dịch thuốc bảo vệ thực vật chứa Fenobucarb (12mg/L) được chuẩn bị từ Bassa 50 EC (Chứa 50% khối lượng Fenobucarb). Mỗi loại than được bố trí gồm đối chứng (không thuốc), đối chứng có thuốc nhưng không than, và than đã nghiền nhỏ (1 – 2 mm) với các mức 1, 2, 3, 5 và 7 g/L. Sau khi cho than vào thì lắc 100 vòng/phút ở các thời gian lưu 30, 60, 90 và 120 phút. Sau đó cho cá phơi nhiễm trong các dung dịch này trong 3 giờ rồi thu mẫu cá phân tích hoạt tính enzyme ChE trong mô não. Kết quả cho thấy than tre, than tràm, than trấu và than hoạt tính gáo dừa có thể làm giảm ảnh hưởng của Fenobucarb đến ChE ở cá rô đồng. Tỷ lệ làm giảm tăng theo trình tự: than hoạt tính &gt; than trấu &gt; than tràm &gt; than tre. Qua nghiên cứu cho thấy có thể sử dụng than xử lý ô nhiễm thuốc bảo vệ thực vật chứa hoạt chất Fenobucarb.</p> <p><strong>ABSTRACT</strong><br>Using biochar making from bamboo, melaleuca, rice husk and activated coconut shell for reducing effect of fenobucarb on brain cholinesterase activity of climbing perch (Anabas testudineus) was done in laboratory condition. Fenobucarb solution (12 mg/L) was prepared from commercial Bassa 50EC (Contained 50% fenobucarb in weight). Each kind of biochar was conducted with control (no fenobucarb), fenobucarb (no biochar) and biochar (1, 2, 3, 5 and 7 g/L) for retention time 30, 60, 90 and 120 minutes. Afterward, fish was exposed into each treatment for 3 hours and then sampled for brain cholinesterase assay. The results showed that bamboo, melaleuca, rice husk and activated coconut shell biochar can reduce effects of fenobucarb on cholinesterase. The efficiency of reduction was in order: activated coconut shell biochar &gt; rice husk &gt; melaleuca &gt; bamboo. These results indicated that above biochar can be used to treat fenobucarb pollution.</p> <p>&nbsp;</p> 2018-08-01T03:16:43+00:00 ##submission.copyrightStatement## http://tapchi.huaf.edu.vn/index.php/id20194/article/view/158 Hiệu quả kinh tế của các mô hình sản xuất nông nghiệp tại vùng u minh thuộc hai tỉnh Cà Mau và Kiên Giang 2018-08-01T03:17:45+00:00 Lê Tấn Lợi tapchi@huaf.edu.vn Lý Hằng Ni lhni@ctu.edu.vn Đồng Ngọc Phượng tapchi@huaf.edu.vn Nguyễn Như Ngọc tapchi@huaf.edu.vn <p>Nghiên cứu được thực hiện nhằm xác định thực trạng sản xuất cũng như hiệu quả kinh tế của các mô hình sản xuất nông nghiệp tại khu vực U Minh Hạ, tỉnh Cà Mau và U Minh Thượng, tỉnh Kiên Giang. Nghiên cứu sử dụng phương pháp điều tra thu thập số liệu thực tế, đồng thời sử dụng phương pháp xử lý số liệu, tính toán hiệu quả kinh tế đầu vào, đầu ra và hiệu quả đồng vốn để so sánh, đánh giá tính hiệu quả của các mô hình. Kết quả nghiên cứu cho thấy đa số chủ hộ và lao động chính trong vùng có trình độ học vấn thấp chủ yếu là cấp 1 và cấp 2, nông dân trong vùng có kinh nghiệm sản xuất lâu năm, tuy nhiên người dân vẫn còn thiếu vốn và phương tiện sản xuất. Thị trường tiêu thụ nông sản của người dân trong vùng tương đối thuận lợi, phần lớn đều được thương lái thu mua. Trong vùng có khá nhiều mô hình canh tác như Lúa; các loại cây trồng cạn như Mía, Khóm, Gừng, rau màu; Chuối; Dây thuốc cá… Diện tích đất phân bổ cho các mô hình canh tác dao động từ 0,75 ha đến 2,58 ha, ngoại trừ mô hình trồng rau màu có diện tích nhỏ hơn là 0,28 ha. Tuy nhiên hiệu quả kinh tế của các mô hình chưa cao, mô hình Lúa – Gừng và Lúa – Mía – Gừng mang lại lợi nhuận cao nhất nhưng hiệu quả đồng vốn thấp, mô hình Dây thuốc cá, mô hình trồng Chuối có hiệu quả đồng vốn cao nhưng chưa phổ biến trong vùng.</p> <p><strong>ABSTRACT</strong><br>The study was carried out to determine production state and economic efficiency of agricultural production model at the U Minh Ha in Ca Mau province and U Minh Thuong in Kien Giang province. The household interview method, and data processing method to calculate data about the outcome, income and benefit cost of production model. The result of the study showed that most of the farmers who are major labors had low education level was ranging from primary school to secondary school, the farmer in the study area have long-term production experience, but they are lack capital and equipment for production. The market for agricultural products in the area was advantages and information market also got from many reliable sources. The land use types in the study zone were various such as Rice crop; Upland crops included: Sugarcane, Pineapple, Ginger, Vegetable; Bananas, Derris elliptica crop…. Most of the production lands were very variously from 0.75 ha to 2.58 ha, except upland crops for Vegetables was less than 0.28 ha. However, the cultivation models have brought in low economic efficiency, Rice – Ginger crop and Rice – Sugarcane – Ginger have high economic efficiency but benefit cost was low; Derris elliptica crop and Bananas crop have high economic efficiency but they were not popular in there yet.</p> <p>&nbsp;</p> 2018-08-01T03:17:44+00:00 ##submission.copyrightStatement## http://tapchi.huaf.edu.vn/index.php/id20194/article/view/157 Nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển và năng suất của một số giống lúa chịu mặn tại Quảng Nam 2018-08-01T03:18:53+00:00 Trần Thị Lệ tranthile@huaf.edu.vn Võ Thị Nhung tapchi@huaf.edu.vn <p>Đề tài khảo nghiệm cơ bản được thực hiện trong vụ Đông Xuân 2016 - 2017 và Hè Thu 2017 tại xã Tam Xuân I, huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam gồm 9 giống lúa có khả năng chịu mặn GSR50, GSR58, GSR66, GSR81, GSR84, GSR90, H1, H5, DV4, và giống HT1 là giống đối chứng. Mục tiêu của đề tài là đánh giá khả năng sinh trưởng, phát triển và năng suất của 9 giống lúa chịu mặn, từ đó tuyển chọn được những giống lúa có khả năng cho năng suất cao, chất lượng gạo khá và thích ứng được với điều kiện sinh thái, đặc biệt những vùng đất mặn tại tỉnh Quảng Nam. Kết quả nghiên cứu vụ Đông Xuân 2016 - 2017 và Hè Thu 2017 cho thấy có 4 giống lúa có năng suất bình quân vượt trội và cao hơn HT1 (45,75 tạ/ha) là giống GSR81 (56,59 tạ/ha), GSR58 (55,33 tạ/ha), GSR84 (54,84 tạ/ha) và GSR66 (52,75 tạ/ha). Đánh giá chất lượng gạo, so sánh đặc tính nông học của bốn giống tuyển chọn này, xác định đây là các giống lúa chịu mặn, năng suất cao, chất lượng khá. Đề tài khuyến cáo nhân nhanh giống tốt được tuyển chọn và hoàn thiện quy trình kỹ thuật sản xuất thích hợp để cung cấp giống cho các vùng lúa bị nhiễm mặn.</p> <p><strong>ABSTRACT</strong><br>The field experiments were conducted in the Winter - Spring season of 2016 - 017 and the Summer - Autumn season of 2017 in Tam Xuan I commune, Nui Thanh district, Quang Nam province. The experiments include 9 saline tolerance rice varieties namely GSR50, GSR58, GSR66, GSR81, GSR84, GSR90, H1, H5, DV4, and HT1 in which HT1 was the control. This study aims to evaluate the growth, the development and the yield of the 9 saline tolerance rice varieties, and to select rice varieties with high-yield, high-quality and adapting to the ecological conditions, especially in the saline soil in Quang Nam province. The results from the field experiments in two crop seasons showed that there were 4 rice varieties namely GSR81 (56.59 quintals/ha), GSR58 (55.33 quintals/ha), GSR84 (54.84 quintals/ha), and GSR66 (52.75 quintals/ha) with yield higher than HT1 (45.75 quintals/ha), Based on evaluating the rice quality and the agronomic characteristics, 4 selected varieties mentioned above were identified as salt-tolerance, highyield and highquality. Multiplication of selected good varieties and the appropriate production techniques application should be considered for the saline rice growing areas.</p> <p>&nbsp;</p> 2018-08-01T03:18:52+00:00 ##submission.copyrightStatement## http://tapchi.huaf.edu.vn/index.php/id20194/article/view/156 Ảnh hưởng của liều lượng thức ăn phối chế kết hợp với tảo tự nhiên lên tỷ lệ sống, sinh trưởng và sinh sản của Artemia Franciscana vĩnh châu trong điều kiện phòng thí nghiệm 2018-08-01T03:21:11+00:00 Trần Hữu Lễ thle@ctu.edu.vn Phạm Thị Ngọc Huyền tapchi@huaf.edu.vn Nguyễn Văn Hòa tapchi@huaf.edu.vn <p>Nghiên cứu được thực hiện nhằm đánh giá sự ảnh hưởng của việc bổ sung thức ăn chế biến với các liều lượng khác nhau kết hợp với tảo tự nhiên lên tỷ lệ sống, sinh trưởng và các chỉ tiêu sinh sản của Artemia franciscana dòng Vĩnh Châu. Thí nghiệm được bố trí với 5 nghiệm thức. Nghiệm thức 1 (NT1): sử dụng 100% thức ăn là tảo tự nhiên; Nghiệm thức 2 (NT2): tảo tự nhiên + 10% thức ăn chế biến; Nghiệm thức 3 (NT3): tảo tự nhiên + 20% thức ăn chế biến; Nghiệm thức 4 (NT4): tảo tự nhiên + 30% thức ăn chế biến; Nghiệm thức 5 (NT5): tảo tự nhiên + 40% thức ăn chế biến. Lượng tảo tự nhiên được cung cấp làm thức ăn cho Artemia mỗi ngày với mật độ tảo được duy trì 2 triệu tế bào (tb)/mL. Nghiên cứu được thực hiện trong điều kiện phòng thí nghiệm với mật độ bố trí là 100 con/lít, sử dụng nước biển có độ mặn 80‰. Sau 14 ngày nuôi thí nghiệm, kết quả cho thấy tỷ lệ sống ở tất cả các nghiệm thức đều đạt trên 81,5%, trong đó NT2 (tảo tự nhiên + 10% thức ăn chế biến) có tỷ lệ sống cao nhất (100%). Tuy nhiên, về tốc độ tăng trưởng và các chỉ tiêu sinh sản đều đạt cao nhất ở NT5 (tảo tự nhiên + 40% thức ăn chế biến) và khác biệt có ý nghĩa thống kê (p &lt; 0.05) so với các nghiệm thức còn lại.</p> <p><strong>ABSTRACT</strong><br>The study was conducted to assess the effect of supplementation of formulated feed at different doses in combination with wild algae on survival, growth and reproductive performance of Artemia franciscana Vinh Chau. The experiment was setting up with 5 treatments. Treatment 1 (NT1): use 100% wild algae; Treatment 2 (NT2): wild algae + 10% formulated feed; Treatment 3 (NT3): wild algae + 20% formulated feed; Treatment 4: wild algae + 30% formulated feed; Treatment 5: wild algae + 40% formulated feeds. Wild algae were fed to Artemia daily at the rate of 2 x 106 cells/mL. The study was conducted in laboratory condition with a density of 100 individuals per liter, using high saline water of 80 ‰. After 14 days of culture, the survival rate of all treatments was reached 81.5%, in which NT2 (wild algae + 10% formulated feed) had the highest survival rate (100 ± 0.00%). However, the growth rate and reproductive parameters were showed highest in NT5 (wild algae + 40% formulted feed) and its difference statistically significant (p &lt; 0.05) as compared to other treatments.</p> 2018-08-01T03:21:10+00:00 ##submission.copyrightStatement## http://tapchi.huaf.edu.vn/index.php/id20194/article/view/155 Tái sử dụng xỉ than tổ ong làm vật liệu đệm trong lọc sinh học để xử lý nước thải sinh hoạt hộ gia đình 2018-08-01T03:22:25+00:00 Kim Lavane klavane@ctu.edu.vn Nguyễn Thị Cẩm Ngân tapchi@huaf.edu.vn Nguyễn Thị Trúc Lê tapchi@huaf.edu.vn Dương Thị Cẩm Thu tapchi@huaf.edu.vn Tôn Nữ Nhật Minh tapchi@huaf.edu.vn <p>Lọc sinh học được biết đến là một phương pháp xử lý nước thải có chi phí thấp và hiệu quả để xử lý tại chỗ nơi nước thải phát sinh. Mục tiêu của nghiên cứu này nhằm đánh giá hiệu quả xử lý của hệ thống lọc sinh học sử dụng xỉ than tổ ong làm vật liệu đệm để xử lý nước thải sinh hoạt với qui mô nhỏ. Thí nghiệm được thực hiện trên mô hình sử dụng ống PVC làm cột lọc. Nước thải được nạp liên tục với tải trọng thủy lực lần lượt là 2,4 m3/m2/ngày, 4,8 m3/m2/ngày và 7,2 m3/m2/ngày. Sau khi kết thúc thí nghiệm, vật liệu đệm được thu lại để xác định mức độ hoạt động của vi sinh vật phát triển trong lớp vật liệu lọc. Kết quả nghiên cứu cho thấy nồng độ chất ô nhiễm trong nước thải sau xử lý thấp và đạt QCVN 14:2008/BTNMT. Hiệu suất xử lý SS, BOD5, TKN, và TP cao nhất đạt lần lượt là 88,4%, 93,9%, 85,8%, và 68,4%, đối với cột lọc sử dụng xỉ than. Cột lọc sử dụng xỉ than làm vật liệu đệm cũng loại bỏ tổng lượng vi khuẩn đường ruột từ 2,2 đến 2,9 log đơn vị. Bên cạnh đó, hiệu quả xử lý khi sử dụng xỉ than làm vật liệu đệm cao hơn so với vật liệu sỏi truyền thống. Hoạt động của vi sinh vật phát triển trong cột lọc xỉ than cao hơn cột lọc sỏi. Qua nghiên cứu này cho thấy xỉ than tổ ong có thể tái sử dụng làm vật liệu đệm trong hệ thống lọc sinh học để nâng cao hiệu quả xử lý các chất ô nhiễm trong nước thải sinh hoạt.</p> <p><strong>ABSTRACT</strong><br>The biofilter is known as an effective and low-cost treatment method for on-site treatment of wastewater. The objective of this study is to assess the treatment efficiency of a bench scale biofilter system using beehive charcoal residue as the packing material to treat domestic wastewater. The system was constructed by using the PVC tube for filter columns. The filter columns were continuously fed with hydraulic loading rates of 2.4 m3/m2/day, 4.8 m3/m2/day và 7.2 m3/m2/day. At the end of the experiments, the packing materials were collected to investigate the activitites activities of microbes developing on the media surfaces. The experimental results showed that the effluent concentrations of contaminants were low and met the National Technical Regulation on Domestic Wastewater (QCVN 14:2008/BTNMT). The removal efficiencies of suspended solids (SS), chemical oxygen demand (COD), biochemical oxygen demand (BOD5), Total Kjeldahl Nitrogen (TKN), and total phosphorus (TP) in filter columns packed with beehive charcoal residues were 88.4%, 93.9%, 85.8%, and 68.4%, respectively. The filter columns packed with beehive charcoal residues also removed total coliform from 2.2 to 2.9 log unit. In addition, the biofilters filled with beehive charcoal combustion residue performed better than that packed with fine gravel. The level of microbial activities in the filter columns packed with beehive charcoal combustion residue was higher than that packed with fine gravel. Ultimately, this study pointed out that beehive charcoal combustion residue could be reused for packing material in filter columns to enhance removal efficiencies of contaminants in domestic wastewater.</p> 2018-08-01T03:22:23+00:00 ##submission.copyrightStatement## http://tapchi.huaf.edu.vn/index.php/id20194/article/view/154 Tìm hiểu khả năng làm sạch nguồn nước sông Như Ý ở thành phố Huế bằng rau dừa nước (jussiaea repens l.) trong phòng thí nghiệm 2018-08-01T03:23:53+00:00 Đặng Thị Thu Hiền danthithuhien@huaf.edu.vn Hoàng Hữu Tình hoanghuutinh@huaf.edu.vn <p>Sông Như Ý ở thành phố Huế, đặc biệt đoạn từ Đập Đá đến cầu Vỹ Dạ được đánh giá vẫn còn có dấu hiệu bị ô nhiễm chất hữu cơ và chất dinh dưỡng. Qua khảo sát thực địa, chúng tôi thấy rau Dừa nước mọc ở nhiều đoạn sông Như Ý, dọc hai bên bờ thành những mảng lớn. Điều này chứng tỏ rau Dừa nước có khả năng thích nghi được với môi trường nước sông Như Ý. Rau Dừa nước đã được một số tác giả dùng để xử lý nước thải rất tốt. Từ trước đến nay chưa có công bố nào về việc dùng rau Dừa nước để xử lý nguồn nước ô nhiễm tại sông Như Ý. Vì vậy chúng tôi đã tìm hiểu khả năng làm sạch nguồn nước sông Như Ý bằng rau Dừa nước. Các thí nghiệm được tiến hành trong phòng thí nghiệm. Chúng tôi bố trí 3 mô hình trồng thủy canh rau Dừa nước chứa 10 lít nước sông Như Ý, lần lượt là 1, 2, 3 tương ứng với trọng lượng 150 g, 300 g và 450 g. Thực nghiệm cho thấy ở mô hình 3 cho kết quả tốt nhất. Nước sông Như Ý sau khi xử lý bằng rau Dừa nước (Jussiaea repens L.) qua mô hình trồng thủy canh cho thấy các thông số ô nhiễm giảm đi đáng kể. Nguồn nước sau khi xử lý có giá trị các thông số DO và BOD5 đều đạt chuẩn QCVN08-MT – 2015 - BTNMT loại A1. Rau Dừa nước có khả năng loại bỏ các tác nhân gây phú dưỡng. Sau 10 ngày thí nghiệm rau Dừa nước có thể loại bỏ 97,27 % N - NO3-, 97,61 % N - NH4+ và 98,85 % P - PO43-</p> <p><strong>ABSTRACT</strong><br>The water in Nhu Y river, especially from Dap Da to Vy Da bridge, is noticeably polluted by organic and nutritious substances. It is realized that water primrose grows a lot on both banks of this river. This shows that the Water primrose is able to adapt to water environment in Nhu Y river. Water primrose has been used by some authors to treat sewage effectively. Until now there have not been any studies into the treatment of polluted water by Water primrose in Nhu Y river. For this reason, we have studied the ability of the Water primrose to cleanse water in Nhu Y river in the laboratory scale. We have 3 models of hydroponic system with 10 litres of Nhu Y water. Model 1, 2, 3 in proportion to 150 g, 300 g, 450 g. The experiments show that model 3 has the best water quality. The water in Như Y river was treated by Water primrose (Jussiaea repens L.) through the hydroponic system, the paramerers of pollution have been remarkably reduced. After treatment, the water in this river has met the standards A1 of QCVN08 – MT – 2015 - BTNMT. After ten day experiments, the Water primrose can eliminate 97.27% N - NO3- , 97.61% N - NH4+ and 98.85% P - PO43.</p> <p>&nbsp;</p> 2018-08-01T03:23:52+00:00 ##submission.copyrightStatement## http://tapchi.huaf.edu.vn/index.php/id20194/article/view/153 Nghiên cứu công tác đấu giá quyền sử dụng đất của một số dự án trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế 2018-08-01T03:24:52+00:00 Dương Thị Thu Hà duongthithuha@huaf.edu.vn Nguyễn Thị Nhật Linh nguyenthinhatlinh@huaf.edu.vn Lê Hữu Ngọc Thanh lehuungocthanh@huaf.edu.vn Hoàng Thế Tiến tapchi@huaf.edu.vn Võ Lê Thủy Tiên tapchi@huaf.edu.vn Đinh Thị Thắm tapchi@huaf.edu.vn <p>Nghiên cứu này nhằm đánh giá thực trạng công tác đấu giá quyền sử dụng (QSD) đất của một số dự án trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế. Từ đó, đề xuất một số giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả công tác đấu giá QSD đất tại địa bàn vùng nghiên cứu. Kết quả điều tra, phân tích, xử lý số liệu 4 dự án đấu giá QSD đất trong giai đoạn 2016 - 2017 cho thấy, phiên đấu giá đã đấu thành công 83/83 lô đất, chiếm tỷ lệ 100%; mức giá trúng đấu giá có xu hướng tăng từ 1,63 lần đến 2,27 lần so với mức giá khởi điểm; mức giá sau khi trúng đấu giá có sự khác biệt và chênh lệch giữa các lô và cụm lô. Bên cạnh những tác động tích cực, công tác đấu giá cũng tồn tại một số hạn chế như: trình tự thủ tục hành chính còn phức tạp; công tác quảng cáo của các dự án chưa hiệu quả; vẫn tồn tại tình trạng đầu cơ đất đai; tình trạng tự điều chỉnh quy hoạch và xây dựng không đúng quy hoạch; lấn, chiếm đất, làm giảm phần diện tích đất công cộng sau khi trúng đấu giá và còn tồn tại tình trạng thông thầu.</p> <p><strong>ABSTRACT</strong><br>This study aims to assess the current situation of auctioning land use rights of some projects in Thua Thien Hue province, from that proposes the solutions to improve the effectiveness of auctioning land use rights in the study area. The survey results, analysis and data processing of 4 land use rights auction projects in the period 2016-2017 showed that the auction was successful 83/83 land plots, accounting for 100%; the winning prices of the land use right value auctions tends to increase from 1.63 times to 2.27 times the starting price; the winning prices of the land use right value auctions is different and the difference in land plots and blocks. In addition to the positive effects, the auction of land use rights also has some limitations, including: administrative procedures remain a big barrier to auction on land use rights; advertisement service of auction on land use rights of some project have not achieved high efficiency; the status of land speculation, individual investors buy houses and land not for the purpose of accommodation or rental but with the intention of quickly reselling them for profit; violating regulations on construction planning and land use plannings and/or plans already publicized; encroaching upon land, using land not for the right purposes; the investors held a majority of transactions in the market, making land and house prices increase and reducing supply for people seeking to buy homes to live in.</p> 2018-08-01T03:24:50+00:00 ##submission.copyrightStatement## http://tapchi.huaf.edu.vn/index.php/id20194/article/view/152 Đánh giá thực trạng sản xuất và tiêu thụ ớt cay a riêu tại xã Mà Cooih, huyện Đông Giang, tỉnh Quảng Nam 2018-08-01T03:25:53+00:00 Nguyễn Văn Đức nguyenvanduc@huaf.edu.vn Trần Cao Úy trancaouy@huaf.edu.vn Đinh Chí Thanh tapchi@huaf.edu.vn Dương Văn Hậu tapchi@huaf.edu.vn Châu Võ Trung Thông chauvotrungthong@huaf.edu.vn Phạm Thị Kim Liền tapchi@huaf.edu.vn <p>Nghiên cứu này phân tích, đánh giá thực trạng sản xuất và tiêu thụ ớt A riêu tại xã miền núi Mà Cooih của huyện Đông Giang, tỉnh Quảng Nam. Nghiên cứu đã phỏng vấn 50 hộ và 2 chuyên gia am hiểu của địa phương về những thuận lợi và khó khăn trong sản xuất và tiêu thụ ớt A riêu, và thu thập các số liệu tài liệu thứ cấp liên quan đến sản xuất và tiêu thụ ớt. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng diện tích trồng ớt trung bình mỗi hộ rất thấp, khoảng 0,0825 ha/hộ. Năm 2017 giá bán ớt A riêu từ 180.000 – 200.000 đồng/kg, năng suất thu hoạch khoảng 1.560 kg/ha, vì thế mỗi hộ thu về gần 28,23 triệu đồng. Chi phí đầu vào chủ yếu là hạt giống (khoảng 180.000đ/sào, tương đương 3,6 triệu đồng/ha) và công lao động (làm đất, chăm sóc và thu hoạch). Trong quá trình canh tác, người dân không sử dụng phân bón và thuốc bảo vệ thực vật. Sau khi thu hoạch thì 77,8% sản lượng bán cho Hợp tác xã Nông lâm nghiệp Mà Cooih, phần còn lại bán cho người thu mua (12,5%) và người bán lẻ (4,3%). Sản xuất ớt A riêu gặp phải các vấn đề khó khăn, như: côn trùng, bệnh hại, sản xuất phân tán, quy mô nhỏ và nguồn cung trên thị trường không ổn định. Vì vậy, cần thiết phải phát triển quy mô sản xuất ớt A riêu hợp lý, xúc tiến thương mại nhiều sản phẩm và phát triển thị trường tiêu thụ ổn định.</p> <p><strong>ABSTRACT</strong><br>The study analyses current status of producing and consuming Arieu chilly in Ma Cooih mountainous commune, Dong Giang District, Quang Nam Province. The researchers interviewed 50 households farming Arieu chilly and 2 local experts on advantages and disadvantages in producing and consuming Arieu chilly as well as collected secondary data relating production and consumption of Arieu chilly. The findings indicate that average area of Arieu chilly per households is low, around 0.0825hecta/hh. In 2017, the price of Arieu chilly is from VND 180,000 to 200,000 per kilogram while the yield for harvest is about 1,560 kg/ha. So the average income per household in 2017 is about 28.23 million. The input costs are mainly seedlings (about VND 3,600,000 per hecta), and labor (land preparation, caring and harvesting). During production of Arieu chilly, households do not use fertilisers and plant protection chemicals. After harvesting, 77.8 percent of Arieu chilly are sold to Ma Cooih Cooperative on Agriculture and Forestry and the remainder is sold to other consumers (12.5 percent for collectors and 4.3 percent for retailers). Besides these, production of Arieu chilly face difficulties such as: insects and pests, diseases, small-scale and fragmented production and unstable supplies in the market. Therefore, it is necessary to increase reasonably scale of Arieu chilly production, promote multiple products marketing and develop output market steady.</p> 2018-08-01T03:25:52+00:00 ##submission.copyrightStatement## http://tapchi.huaf.edu.vn/index.php/id20194/article/view/151 Ảnh hưởng của việc thu hồi đất để xây dựng khu du lịch sinh thái đến sinh kế của các hộ sản xuất nông - ngư nghiệp ven biển: trường hợp nghiên cứu tại xã hải ninh, huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình 2018-08-01T03:26:53+00:00 Phan Thúc Định tapchi@huaf.edu.vn Nguyễn Quang Tân quangtankn43@gmail.com <p>Trong những năm gần đây, việc Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp phục vụ cho phát triển du lịch đã tác động rất lớn tới đời sống của người dân. Nhằm tìm hiểu quá trình thu hồi đất, từ đó phân tích sự thay đổi sinh kế sau thu hồi đất và đề xuất một số giải pháp nhằm đảm bảo sinh kế cho người dân địa phương xã Hải Ninh, nghiên cứu đã tiến hành điều tra 60 hộ gia đình bằng phương pháp đánh giá nhanh nông thôn có sự tham gia (PRA). Kết quả chỉ ra rằng số hộ bị thu hồi đất chiếm 9,1% tổng số hộ toàn xã, bình quân diện tích đất nông lâm nghiệp giảm 56% mỗi hộ. Sau khi thu hồi đất, sinh kế của hộ có sự dịch chuyển theo hướng giảm thu nhập và lao động ở nhóm nông nghiệp, tăng tỷ trọng trong các ngành phi nông nghiệp. Đồng thời, nguồn vốn tự nhiên (đất đai) đã chuyển thành nguồn vốn tài chính, sau đó, lại chuyển từ nguồn vốn tài chính sang nguồn vốn vật chất. Kết quả cũng cho thấy thu nhập bình quân tăng, đạt gần 40 triệu/lao động/năm, gấp 3 lần so với trước khi thu hồi. Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy cần phải có các giải pháp cụ thể và rõ ràng cho từng nhóm đối tượng về chuyển đổi việc làm và sử dụng hiệu quả nguồn vốn đền bù để phát triển sinh kế bền vững.</p> <p><strong>ABSTRACT</strong><br>In recent years, agricultural land acquisition policy of Vietnamese state for tourism development has greatly affected on the livelihoods of local people. This study aims to understand the land acquisition process, analyze the changes in livelihoods after land acquisition as well propose some solutions for sustainable livelihoods of local people in Hai Ninh commune. 60 households were surveyed by using participatory rural appraisal (PRA) method. The results show that the number of households affected by land acquisition accounts for 9.1% in the study site with 56% land loss each household in average. Household’s livelihood capitals were impacted obviously. Labor and income structure show a tendency to be shifted from agriculture to non-agriculture. Additionlly, natural capitals (land) have been transformed into financial capitals, then, from financial capitals convered to physical capitals. Moreover, average income increses, reaching at 40 million VND/labor/year, 3 times higher than before the land acquisition. The study has also pointed out that it was very neccesary to provide specific solutions for each target group on employment as well as the effective use of compensatory funds to develop sustainable livelihoods.</p> 2018-08-01T03:26:52+00:00 ##submission.copyrightStatement## http://tapchi.huaf.edu.vn/index.php/id20194/article/view/150 Phân tích các yếu tố ảnh hưởng sự suy giảm diện tích vùng nguyên liệu mía đường huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh 2018-08-01T03:40:06+00:00 Trần Thanh Dũng thanhdung@ctu.edu.vn Nguyễn Hoàng Phong tapchi@huaf.edu.vn Võ Thị Lào tapchi@huaf.edu.vn Nguyễn Thị Thảo Linh tapchi@huaf.edu.vn Nguyễn Lâm Thảo Lan tapchi@huaf.edu.vn <p>Đề tài nhằm nhận ra các yếu tố làm suy giảm diện tích và giải pháp ổn định diện tích trồng mía. Nghiên cứu sử dụng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên kết hợp phân tầng để phỏng vấn 90 nông hộ về canh tác mía từ năm 2014 đến năm 2016. Đồng thời, nghiên cứu dùng các phương pháp thống kê mô tả, hồi quy tuyến tính và SWOT để phân tích. Kết quả cho thấy nông dân có lợi nhuận thấp, diện tích giảm mạnh qua các năm, các yếu tố ảnh hưởng đến suy giảm diện tích trồng mía là độ chữ đường, đất nhiễm mặn, có tham gia tập huấn, thiếu lao động và sử dụng giống cũ. Qua đó, đề tài đề xuất một số giải pháp nhằm ổn định diện tích vùng nguyên liệu mía đường.</p> <p><strong>ABSTRACT</strong><br>This research aimed at identifying factors that reduced the cultivation area and solutions to stabilize sugarcane area. Random sampling method was employed to select 90 sugarcane cultivating farmers for interviewing. Collected information was analysed by descriptive statistic tools, linear regression and SWOT. The results showed that, farmers had low profits and the area was reduced significantly over the years. Factors affecting the reduction of sugarcane area included the Brix indicator; soil salinity; training; labor shortage and using the old breed. Therefore, the topic proposed some solutions to stabilize the area of sugarcane raw materials.</p> 2018-08-01T00:00:00+00:00 ##submission.copyrightStatement## http://tapchi.huaf.edu.vn/index.php/id20194/article/view/149 Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý, sử dụng đất tại ban quản lý rừng phòng hộ khu đông huyện Ba Tơ, tỉnh Quảng Ngãi 2018-08-01T03:29:33+00:00 Huỳnh Văn Chương huynhvanchuong@huaf.edu.vn Lê Hoàng Vũ tapchi@huaf.edu.vn Nguyễn Ngọc Thanh nguyenngocthanh@huaf.edu.vn <p>Nghiên cứu đã tập trung vào việc đánh giá thực trạng về hiện trạng rừng phòng hộ, công tác quản lý sử dụng đất, công tác quản lý nhà nước về rừng, về đất lâm nghiệp tại Ban Quản lý Rừng phòng hộ (BQLRPH) Khu Đông tỉnh Quảng Ngãi. Để thực hiện nghiên cứu này, nhóm tác giả sử dụng hai phương pháp chính, bao gồm: phương pháp thu thập số liệu và phương pháp phân tích, xử lý và tổng hợp số liệu. Hiện nay, diện tích đất quy hoạch rừng phòng hộ đầu nguồn trên địa bàn 05 xã (Ba Cung, Ba Khâm, Ba Liên, Ba Trang, Ba Vinh) thuộc lâm phần do BQLRPH Khu Đông tỉnh Quảng Ngãi quản lý là 13.499,26 ha. Qua quá trình điều tra, công tác sử dụng đất đã được BQLRPH giao khoán lại diện tích đất có rừng phòng hộ cho các hộ gia đình trên địa bàn để quản lý và sử dụng. Điều này đã thúc đẩy sự bảo vệ rừng và phát triển kinh tế của địa phương. Trên địa bàn nghiên cứu, mô hình trồng cây Mây nước và cây Sa nhân tím được triển khai rộng rãi và được nhiều người biết đến.</p> <p><strong>ABSTRACT</strong></p> <p>This article forcuses on the evaluation of the current status of protection forest and land use management at the Khu Dong Protection Forest Management Commettee (PFMC) in Ba To district, Quang Ngai province. Two main methods were used, including: the data collection methods and data analysis, processing, synthetical methods. Following land use plan of Quang Ngai Committee, the total area of protection forest in five wards (Ba Cung, Ba Kham, Ba Liên, Ba Vinh, Ba Trang) belong to the Khu Dong protection forest management is 13,499.26 ha. From the investigation process, we know that the forest land use rights of Khu Dong PFMC have been given local people to use and manage, so, which has promoted forest protection and economic development of the locality. In the study area, Daemonorops poilanei and Amomum longiligulare are planted widely and popularly.</p> <p>&nbsp;</p> 2018-08-01T03:29:32+00:00 ##submission.copyrightStatement## http://tapchi.huaf.edu.vn/index.php/id20194/article/view/144 Đánh giá thực trạng chứng nhận quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất cho các tổ chức kinh tế tại tỉnh Đồng Nai 2018-08-01T03:30:22+00:00 Huỳnh Văn Chương huynhvanchuong@huaf.edu.vn Trương Thị Hồng Nhung tapchi@huaf.edu.vn Trần Thị Minh Châu tranthiminhchau@huaf.edu.vn <p>Nghiên cứu này được thực hiện tại tỉnh Đồng Nai nhằm đánh giá thực trạng công tác chứng nhận quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất của các tổ chức kinh tế. Bằng phương pháp thu thập và xử lý các số liệu liên quan đến tình hình chứng nhận quyền sở hữu tài sản và số liệu điều tra phỏng vấn cán bộ, các tổ chức kinh tế sử dụng đất tại địa phương, nghiên cứu đã chỉ ra một số kết quả cụ thể: (i) Đến tháng 6/2017, trên toàn tỉnh Đồng Nai đã tiến hành đăng ký chứng nhận quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất cho 1.036 tổ chức kinh tế, trong đó chủ yếu tập trung vào các công ty trách nhiệm hữu hạn; (ii) Hầu hết các tài sản gắn liền với đất đã được đăng ký chứng nhận quyền sở hữu cho các tổ chức kinh tế đều là nhà ở (chiếm 12,81%) và công trình xây dựng khác (chiếm 86,58%); (iii) Công tác đăng ký chứng nhận tài sản gắn liền với đất chưa được các tổ chức kinh tế chú trọng, tiến độ thực hiện còn tương đối chậm; (iv) Nghiên cứu cũng đã đề xuất được các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện công tác chứng nhận quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất cho địa bàn nghiên cứu, trong đó, chú trọng vào các giải pháp về hoàn thiện hệ thống pháp luật và tổ chức thực hiện.</p> <p><strong>ABSTRACT</strong><br>This study was conducted in Dong Nai Province to assess the status of certification of ownership of assets attached to land by economic organizations. Basing on collecting and analyzing data that related to status of certification of ownership of assets attached to land and interview data from officials, economic organizations, the research result shows that: (i) Up to June of 2017, There were 1,036 cases that were registered to certify land-attached assets, mainly focusing on limited liability Companies; (ii) Most of the assets attached to land that was registered are houses (12.81%) and other construction (86.58%); (iii) The registration of assets attached to land has not been paid much attention by economic organizations, and progress is still relatively slow; (iv) The research also proposed solutions to improve the effectiveness of certification of ownership of assets attached to land, in which solutions to improve the Legal system and implementation.</p> 2018-08-01T03:30:20+00:00 ##submission.copyrightStatement## http://tapchi.huaf.edu.vn/index.php/id20194/article/view/141 Đánh giá hiệu quả sử dụng đất sản xuất nông nghiệp tại xã Phú Mậu, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế 2018-08-01T03:31:12+00:00 Nguyễn Văn Bình nguyenvanbinh@huaf.edu.vn Hồ Nhật Linh honhatlinh@huaf.edu.vn Hồ Kiệt hokiet@huaf.edu.vn <p>Cùng với xu thế phát triển chung của nền kinh tế, ngành nông nghiệp của nước ta mấy năm trở lại đây cơ bản đã chuyển sang sản xuất hàng hóa, phát triển tương đối toàn diện. Tuy nhiên, hiện nay diện tích nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp do được chuyển sang các loại hình đất khác như đất ở, đất sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp. Do đó, việc đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp của xã sẽ là căn cứ, cơ sở cho việc đề xuất các giải pháp nhằm phát huy có hiệu quả tiềm năng đất nông nghiệp. Nghiên cứu đã tiến hành điều tra 50 hộ thông qua phương pháp sử dụng các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng đất. Kết quả nghiên cứu cho thấy, Phú Mậu là xã có điều kiện thuận lợi cho việc sản xuất nông nghiệp, quỹ đất nông nghiệp còn khá lớn, chất lượng đất tốt. Đất sản xuất nông nghiệp chiếm tỷ trọng lớn trong đất nông nghiệp. Tổng diện tích đất nông nghiệp là 443,69 ha, chiếm 99,73% tổng diện tích đất nông nghiệp toàn xã Phú Mậu, trong đó: đất trồng cây hàng năm với diện tích lớn nhất là 391,37 ha. Loại hình sử dụng đất trồng hoa cúc mang lại hiệu quả kinh tế cao nhất (GO, VA, VA/IC), thấp nhất là loại hình sử dụng đất trồng lúa. Loại hình sản xuất mang lại hiệu quả xã hội cao nhất là trồng hoa cúc (567,52 nghìn đồng/ngày) và thấp nhất là trồng lúa (195,27 nghìn đồng/ngày). Hiệu quả môi trường cao nhất là loại hình sử dụng đất trồng hoa và thấp nhất là loại hình trồng lúa. Các loại hình sử dụng đất trên địa bàn xã đã góp phần nâng cao thu nhập, xóa đói giảm nghèo cho người dân.</p> <p>ABSTRACT Together with the general development trend of the economy, our country's agriculture sector has basically shifted to commodity production in the last few years and has developed relatively comprehensively. However, in the current reality, the area of agricultural land has been narrowed down to other types of land such as residential land and non-agricultural production land. Therefore, the assessment of the effectiveness of agricultural land use in the commune will be the basis for proposing solutions to effectively promote agricultural land potential. A 50-household survey was conducted using a land use efficiency assessment. Research results show that Phu Mau commune has favorable conditions for agricultural production, agricultural land fund is quite large, good quality of land. Agricultural land accounts for a large proportion of agricultural land. The total area of agricultural land is 443.69 ha, accounting for 99.73% of the total area of agricultural land in Phu Mau commune, of which: The annual land area with the largest area is 391.37 ha. The use of hrysanthemum soil yielded the highest economic returns (GO, VA, VA / IC), the lowest was paddy land use. The highest productivity was the chrysanthemum (567.52 thousand VND/day) and the lowest was rice (195.27 thousand VND/day). The highest environmental impact is the use of chrysanthemum and the lowest is that of rice land. Types of land use in the commune have contributed to raising income, reducing poverty for the people.</p> <p>&nbsp;</p> 2018-08-01T03:31:11+00:00 ##submission.copyrightStatement##