http://tapchi.huaf.edu.vn/index.php/id20194/issue/feed Tạp chí Khoa học và công nghệ nông nghiệp, Trường Đại học Nông Lâm Huế 2018-11-01T07:12:24+00:00 Ban biên tập Tạp chí tapchidhnl@huaf.edu.vn Open Journal Systems Tạp chí Khoa học và công nghệ nông nghiệp, trường Đại học Nông Lâm Huế http://tapchi.huaf.edu.vn/index.php/id20194/article/view/174 Chất lượng thịt và thành phần axít béo trong cơ thăn (Musculus longissimus dorsi) của các tổ hợp lợn lai Duroc × [Landrace × (Pietrain × VCN-MS15)] và Pietrain × [Landrace × (Duroc × VCN-MS15)] 2018-10-31T01:40:59+00:00 Nguyễn Xuân An tapchi@huaf.edu.vn Lê Đình Phùng phung.ledinh@huaf.edu.vn Lê Đức Thạo tapchi@huaf.edu.vn Đinh Thị Bích Lân tapchi@huaf.edu.vn Phùng Thăng Long thanglong@huaf.edu.vn <p>Mục tiêu của nghiên cứu này là đánh giá chất lượng thịt và thành phần axít béo trong cơ thăn (Musculus longissimus dorsi) của 2 tổ hợp lợn lai Duroc × [Landrace × (Pietrain × VCN-MS15)] và Pietrain × [Landrace × (Duroc × VCN-MS15)] nuôi tại Thừa Thiên Huế. Ba mươi hai con lợn lai 60 ngày tuổi (16 con/tổ hợp lai) được nuôi cá thể trong chuồng hở và được cho ăn tự do các hỗn hợp thức ăn hoàn chỉnh phù hợp với các giai đoạn sinh trưởng. Sau khi kết thúc thời gian thí nghiệm ở 160 ngày tuổi, 6 lợn (3 đực và 3 cái)/1 tổ hợp lai có khối lượng 80 - 87 kg được đưa đi giết thịt, lấy mẫu cơ thăn ở khoảng giữa xương sườn thứ 10 - 14 để đánh giá chất lượng thịt và phân tích thành phần axít béo. Kết quả phân tích các chỉ tiêu chất lượng thịt gồm pH, màu sắc, tỷ lệ mất nước bảo quản, tỷ lệ mất nước chế biến, độ dai (lực cắt), thành phần hóa học và thành phần axít béo trong cơ thăn chỉ ra rằng 2 tổ hợp lợn lai Duroc × [Landrace × (Pietrain × VCN-MS15)] và Pietrain × [Landrace × (Duroc × VCN-MS15)] nuôi ở Thừa Thiên Huế có chất lượng thịt và thành phần axít béo trong cơ thăn tương đương nhau, và đáp ứng được yêu cầu về chất lượng thịt.</p> <p><strong>ABSTRACT</strong></p> <p>The objective of this study is to evaluate the meat quality and fatty acid composition of Longissimus dorsi muscle of Duroc × [Landrace × (Pietrain × VCN-MS15)] and Pietrain × [Landrace × (Duroc × VCN-MS15)] crossbred pigs. The experiment was done on 32 crossbred pigs of 60 days old with a completely randomized design (16 replications/crossbred pig genotype). All pigs were fed twice daily at 8h and 16h30 with the same diets according to different growing phases and accessed fresh water freely. After finishing the experimental period from 60 to 160 days old, 6 pigs (3 males and 3 females)/each crossbred genotype with body weights of 80 - 87 kg/pig were slaughtered and collected samples of Longissimus dorsi muscle between the 10th and 14th ribs to evaluate the meat quality and fatty acid composition. Results showed that the meat quality indicators including pH values, color, drip loss, cooking loss, shear force value, chemical composition and fatty acid composition of Longissimus dorsi muscle in 2 crossbred pig genotypes of Duroc × [Landrace × (Pietrain × VCN-MS15)] and Pietrain × [Landrace × (Duroc × VCN-MS15)] were similar and within the limits of accepted meat quality.</p> 2018-10-31T00:00:00+00:00 ##submission.copyrightStatement## http://tapchi.huaf.edu.vn/index.php/id20194/article/view/181 Tình hình bệnh viêm tử cung và một số chỉ tiêu sinh hóa máu ở chó mắc bệnh 2018-10-31T01:40:46+00:00 Nguyễn Thị Quỳnh Anh nguyenthiquynhanh@huaf.edu.vn Lê Xuân Ánh lexuananh@huaf.edu.vn Nguyễn Ngọc Trường Sơn tapchi@huaf.edu.vn Trương Thị Kim Ngân tapchi@huaf.edu.vn <p>Nhằm đánh giá tình hình bệnh viêm tử cung trên chó và sự thay đổi một số chỉ tiêu sinh hóa máu, nghiên cứu cắt ngang được tiến hành tại phòng khám đa khoa thú cưng Trường Sơn - Thành phố Đà Nẵng từ tháng 9 năm 2017 đến tháng 1 năm 2018. Kết quả nghiên cứu cho thấy có 31/52 chó cái bị viêm tử cung với các dấu hiệu lâm sàng phổ biến là chảy dịch từ âm hộ (77,4%), bụng chướng to (74,1%), bỏ ăn (74,1%), uống nhiều nước (45,1%), sốt (61,2 %), tiêu chảy (41,9%) và nôn mửa (32,9%). Kết quả cũng cho thấy bệnh xảy ra nhiều hơn ở giống chó ngoại và giảm theo số lứa đẻ. Kết quả xét nghiệm sinh hóa cho thấy, hoạt độ enzyme ALP, ALT (GPT), glucose, amylase huyết thanh và calcium máu không tăng. Hoạt độ enzyme AST (GOT) tăng nhẹ khoảng 1,3 lần so với bình thường. Nồng độ urea huyết thanh dao động từ 4,0 – 20,6 mmol/L cao hơn chỉ tiêu bình thường là 2,5 – 7,5 mmol/L từ 2 – 3 lần. Nồng độ creatinine huyết thanh dao động trong khoảng từ 37,2 – 248,22 mmol/L cao hơn so với chỉ tiêu bình thường là 52 – 120 mmol/L khoảng 2 lần. Từ kết quả sinh hóa cho thấy khi chó bị viêm tử cung có ảnh hưởng đến chức năng của thận và không ảnh hưởng đến các chức năng của gan và tụy.</p> <p><strong>ABSTRACT</strong></p> <p>Cross-sectional study was conducted at the Truong Son Veterinary Clinic - Danang City from September 2017 to January 2018 to assess the incidence of uteritis in dogs and changes in some hemato-biologycal parameters blood. Results show that 31 of 52 bitches were subjected to uteritis with the most common clinical signs of vaginal discharge (77.4%), abdominal obstruction (74.1%), (74.1%), heavy drinking (45.1%), fever (61.2%), diarrhea (41.9%) and vomiting (32.9%). The results also show that the disease occurred more frequently in exotic breed dogs and decreased in parity. Results of biochemical tests show that serum ALP, ALT (GPT) activity did not increase. AST (GOT) enzyme activity increased slightly by 1.3 times compared to normal. Serum glucose levels do not change. Serum amylase, blood calcium level is not changed compared to normal. Serum urea levels ranged from 4.0 to 20.6 mmol/L, higher than the normal range of 2.5 to 7.5 mmol/L from 2 to 3 times. Serum creatinine concentrations ranged from 37.2 to 248.22 mmol/L, higher than the normal range of 52-120 mmol/L twice. Biochemical findings indicate that when a dog with a uterine inflammation affects the functioning of the kidneys and does not affect the function of the liver and pancreas.</p> 2018-10-30T00:00:00+00:00 ##submission.copyrightStatement## http://tapchi.huaf.edu.vn/index.php/id20194/article/view/182 Khảo sát hàm lượng polyphenol, saponin, hoạt tính kháng oxy hóa và kháng khuẩn từ cao chiết bẹ và củ rễ cây Môn ngứa (Colocasia esculenta) 2018-10-31T01:41:13+00:00 Nguyễn Văn Băn ban16121994@gmail.com Huỳnh Thanh Duy tapchidhnl@huaf.edu.vn Trần Hải Dương tapchidhnl@huaf.edu.vn Trần Thị Tuyết Nhung tapchidhnl@huaf.edu.vn Thạch Trọng Nghĩa tapchidhnl@huaf.edu.vn Nguyễn Đức Độ tapchidhnl@huaf.edu.vn Huỳnh Ngọc Thanh Tâm tapchidhnl@huaf.edu.vn <p>Các đặc tính dược liệu của cây Môn ngứa (Colocasia esculenta) ở Việt Nam hiện nay vẫn chưa được nghiên cứu nhiều. Việc khảo sát hàm lượng polyphenol, saponin, khả năng kháng oxy hóa và khả năng kháng khuẩn của cao chiết từ bẹ và củ rễ Colocasia esculenta, đặc biệt là trên các loài vi khuẩn phổ biến sẽ mở rộng hướng đi cho ngành dược. Cao chiết từ bẹ và củ rễ của cây Môn ngứa (Colocasia esculenta) được ly trích trong dung môi ethanol 96o có kết hợp sóng siêu âm. Hiệu suất ly trích ở nghiệm thức bẹ (BE96S) đạt 3,1 % trong khi đó nghiệm thức củ rễ (CE96S) chỉ đạt 2,8 %. Qua kết quả nghiên cứu cho thấy hàm lượng polyphenol và saponin tổng của nghiệm thức CE96S (18,1 mg/g và 36,5 mg/g) cao hơn nghiệm thức BE96S (3,07 mg/g và 29,3 mg/g). Xét về khả năng chống oxy hóa H2O2, DPPH và khử ion Fe3+ thì nghiệm thức CE96S (254,74 μg/mL, 19 μg/mL, 136,38 μg/mL) cho kết quả tốt hơn nghiệm thức BE96S (1142 μg/mL, 1947 μg/mL và 450,85 μg/mL). Xét về khả năng kháng khuẩn, cả 2 nghiệm thức đều có khả năng kháng khuẩn, trên 2 loài vi khuẩn E. coli và Staphylococcus sp.</p> <p><strong>ABSTRACT</strong></p> <p>The medicinal properties of Mon Ngua (Colocasia esculenta) have not been fully exploited in Vietnam. Survey of polyphenols, saponins, antioxidant and antibacterial activity of wild taro shoot and tuber, especially, common bacterial species which will expand the direction of the pharmaceutical industry. Wild Taro shoots and tubers (Colocasia esculenta) are extracted in 96o ethanol solvent and combined with ultrasound. The yield of shoots extraction (BE96S) was 3.1%, while the tubers (CE96S) was 2.8%. The results showed that the total polyphenol and saponin contents of CE96S treatment (18,1 mg GAE/g and 36.5 mg/g) were higher than the results of BE96S (3.07 mg GAE/g and 29.3 mg/g). The antioxidant capacity (H2O2, DPPH and deionized Fe3+) of the CE96S treatment (254.74 μg/mL, 19 μg/mL, 136.38 μg/mL) gave better results than the BE96S (1142 μg/mL, 1947 μg/mL, and 450.85 μg/mL). Both treatments showed potent ihibitory effect against Escherichia coli and Staphylococcus sp. Bacterial strains.</p> 2018-10-31T00:00:00+00:00 ##submission.copyrightStatement## http://tapchi.huaf.edu.vn/index.php/id20194/article/view/183 Một số tính chất lý hóa của 3 loại than tràm, tre và trấu sản xuất bằng phương pháp truyền thống 2018-10-31T02:05:23+00:00 Huỳnh Phan Khánh Bình kbinh@hotmail.com.vn Trương Thị Nga tapchidhnl@huaf.edu.vn <p>Nghiên cứu than có nguồn gốc từ tràm, tre và vỏ trấu được tạo bằng phương pháp truyền thống nhằm phân tích và đánh giá tiềm năng sử dụng các loại than này như một loại than sinh học để có thể ứng dụng vào lĩnh vực môi trường. Than thí nghiệm được tạo tại làng nghề sản xuất than và bằng các nguyên liệu sẵn có tại địa phương. Tỷ trọng 3 loại than dao động trong khoảng 1,408 đến 1,587 g/cm3, pH có giá trị từ 6,97 đến 8,09. Độ dẫn điện than tre cao nhất (6,85 mS/cm), tiếp đến là than trấu (1,36 mS/cm) và thấp nhất là tràm (1,19 mS/cm). Hàm lượng tro trong than dao động từ 7,67 đến 32,39%, than trấu có hàm lượng tro cao nhất. Thành phần dinh dưỡng trong mỗi loại than khác nhau, trong đó silic chiếm hàm lượng cao nhất và nhiều nhất trong than trấu. So sánh tính chất cho thấy than được tạo bằng các phương pháp truyền thống có tính chất tương đương với than sinh học ở những nghiên cứu khác nhưng công nghệ sản xuất đơn giản, giá thành rẻ, có thể được ứng dụng trong việc cải tạo đất, qua đó cải thiện năng suất cây trồng, phù hợp với điều kiện sản xuất sẵn có tại Việt Nam.</p> <p><strong>ABSTRACT</strong></p> <p>A study on charcoal derived from Melaleuca, Bamboo and Rice husk was performed. The charcoals were made in the traditional coal-producing with the available wood at local such as Melaleuca, Bamboo and Rice husk. The properties of charcoal with particle densities ranged from 1.408 to 1.587 g/cm3; the pH value from 6.97 to 8.09. Electrical conductivity of Bamboo charcoal was the highest (6.85 mS/cm), followed by Rice husk charcoal (1.36 mS/cm) and Melaleuca charcoal (1.19 mS/cm). Ash content in charcoal ranged from 7.67 to 32.39%, Rice husk had the highest ash content. The composition of the elements in each type of charcoal was different, in which the Silicon content was highest for Rice husk charcoal. The traditional charcoals can be used in soil remediation, improved cropping, suitable with the conditions of production available in Vietnam.</p> <p>&nbsp;</p> <p>&nbsp;</p> 2018-10-31T00:00:00+00:00 ##submission.copyrightStatement## http://tapchi.huaf.edu.vn/index.php/id20194/article/view/184 Đánh giá tình hình quản lý sử dụng đất tại các cụm công nghiệp ở thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai 2018-10-31T07:41:12+00:00 Huỳnh Văn Chương huynhvanchuong@huaf.edu.vn Lưu Thị Mai Hương tapchidhnl@huaf.edu.vn Trần Thị Minh Châu tranthiminhchau@huaf.edu.vn <p>Nghiên cứu được thực hiện nhằm đánh giá tình hình quản lý và sử dụng đất tại các cụm công nghiệp ở thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai trên cơ sở thu thập số liệu từ các phòng ban chức năng và phỏng vấn cán bộ, người dân địa phương. Kết quả nghiên cứu cho thấy, từ năm 2000, thành phố Biên Hòa đã có chủ trương xây dựng mới các cụm công nghiệp, tuy nhiên đa phần chưa được thực hiện do thiếu vốn và vướng mắc trong công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng. Đến nay, trên địa bàn thành phố có 3 cụm công nghiệp đang được quy hoạch phát triển với tổng diện tích 215,56 ha. Nhìn chung, công tác quản lý và sử dụng đất tại các cụm công nghiệp được thực hiện tương đối đồng bộ mang lại hiệu quả tích cực về mặt kinh tế và xã hội tại địa phương. Tuy nhiên, hiệu quả về môi trường còn chưa được chú trọng. Trong nghiên cứu cũng đề xuất được một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý và sử dụng đất, trong đó tập trung vào các nhóm giải pháp về quy hoạch và thu hút vốn đầu tư.</p> <p><strong>ABSTRACT</strong></p> <p>This research was conducted in Bien Hoa city, Dong Nai province to analyze and assess the situation of the management and land using at industrial clusters based on collecting the data from the departments and interview cader and local people. The result shows that since 2000, Bien Hoa City has advocated the construction of new industrial clusters, but most of them have not been conducted because of the management problems. Up to now, 3 industrial clusters have been building with a total area of 215.56 ha. In general, the situation of management and land using at industrial clusters is relatively synchronized with a lot of positive economic and socially effective. However, the environment problem has not been paid much attention. This research also shows some specific solutions to improve the effectiveness of management and land using, in which focus on planning and attracting the investment.</p> 2018-10-31T02:23:27+00:00 ##submission.copyrightStatement## http://tapchi.huaf.edu.vn/index.php/id20194/article/view/185 Đánh giá hiệu quả các loại hình sử dụng đất sản xuất nông nghiệp ở huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai 2018-10-31T02:37:53+00:00 Huỳnh Văn Chương huynhvanchuong@hueuni.edu.vn Nguyễn Bích Ngọc tapchidhnl@huaf.edu.vn Nguyễn Thị Mỹ Xuân tapchidhnl@huaf.edu.vn <p>Nghiên cứu được thực hiện nhằm đánh giá hiệu quả của một số loại hình sử dụng đất sản xuất nông nghiệp ở huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai. Nghiên cứu đã sử dụng phương pháp điều tra, phỏng vấn thu thập và xử lý số liệu có liên quan đến các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng đất ở địa phương. Kết quả nghiên cứu cho thấy, ở khu vực nghiên cứu có 2 loại hình sử dụng đất chính là loại hình trồng cây lâu năm và cây hàng năm. Trong đó, các loại hình sử dụng đất trồng cây lâu năm ở xã Suối Cao chiếm hơn 89% diện tích toàn khu vực và được sử dụng chủ yếu để trồng tiêu và xoài. Ở xã Xuân Phú có hơn 63% diện tích đất trồng cây hàng năm chủ yếu là rau màu. Bên cạnh đó, diện tích đất trồng lúa vẫn chiếm một ưu thế quan trọng trong đảm bảo an ninh lương thực của người dân. Loại hình sử dụng đất trồng tiêu và trồng rau cho hiệu quả kinh tế cao trong vùng với giá trị gia tăng lần lượt đạt tới 155.863 nghìn đồng/ha, 40.243 nghìn đồng/ha, đồng thời hai loại hình này cũng đã giải quyết việc làm cho người dân trong vùng với số ngày công lần lượt là 219 ngày công/ha và 85 ngày công/ha. Nhìn chung, các loại hình sử dụng đất ở địa bàn nghiên cứu chưa gây ảnh hưởng nhiều đến môi trường. Trên cơ sở đánh giá thực trạng, nghiên cứu cũng đề xuất một số loại hình sử dụng đất nông nghiệp triển vọng nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất trong tương lai của huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai.</p> <p><strong>ABSTRACT</strong></p> <p>This study aims to evaluate the efficiency of agricultural land use at Xuan Loc district, Dong Nai province. This study used survey methodology, data collection interviews related to indicators of land use effectiveness at local. The results show that the study area has 2 main land use types as perennial and annual crops. In particular, the land use type perennial at Suoi Cao commune accounts for more than 89 percent of the whole area and mainly planted production perennial as mango and pepper. There are more than 63 percent of the annual crops area in Xuan Phu commune is vegetables. Besides, the rice cultivation area still occupies an important advantage in ensuring food security of the people. The economic efficiency of the different land use types, land for pepper and vegetables have the high value over the year with production value reached relatively 155,863 thousand VND/ha and 40,243 thousand VND/ha with a rate of return higher than the other land use types; creating jobs for workers relatively 219 labor/ha/year and 85 labor/ha/year. In general, the land use types in the study area are not affecting the environment. Based on the analysis, this study also suggests some types of promising agricultural land use to improve the efficiency of land use types agricultural in Xuan Loc district, Dong Nai province in the coming time.</p> 2018-10-31T00:00:00+00:00 ##submission.copyrightStatement## http://tapchi.huaf.edu.vn/index.php/id20194/article/view/187 Đánh giá thực trạng khiếu nại, tố cáo, tranh chấp đất đai tại quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng 2018-10-31T03:18:45+00:00 Trần Thanh Đức tranthanhduc@huaf.edu.vn Trần Minh Huấn tapchidhnl@huaf.edu.vn Trương Thị Diệu Hạnh tapchidhnl@huaf.edu.vn <p>Nghiên cứu được thực hiện ở quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng nhằm mục đích đánh giá thực trạng khiếu nại, tố cáo, tranh chấp đất đai trong giai đoạn 2014 - 2017. Đề tài sử dụng phương pháp thu thập và xử lý số liệu liên quan đến khiếu nại, tố cáo, tranh chấp đất đai của quận Liên Chiểu để thực hiện các nội dung nghiên cứu. Kết quả nghiên cứu cho thấy, tổng số đơn thư trong giai đoạn này trên địa bàn quận là 335 đơn, trong đó khiếu nại là 10 đơn (chiếm 3%), tố cáo là 4 đơn (1,2%), tranh chấp đất đai là 321 đơn (95,8%). Các đơn thư khiếu nại, tố cáo, tranh chấp về đất đai xảy ra trên địa bàn quận được các cơ quan chức năng giải quyết một cách kịp thời. Trong giai đoạn này, có 140 đơn tranh chấp đất đai thuộc thẩm quyền giải quyết của Ủy ban nhân dân cấp phường, số đơn này đã được tiếp nhận và xử lý dứt điểm, có 181 vụ việc tranh chấp đất đai được giải quyết tại Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu trong đó hòa giải là 70 vụ (chiếm tỷ lệ 38,67%), xét xử sơ thẩm là 111 vụ (tỷ lệ 61,33%). Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy có đến 76,9% số người dân được hỏi hài lòng với cách giải quyết của chính quyền các cấp. Điều này chứng tỏ công tác giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo, tranh chấp đất đai trên địa bàn quận Liên Chiểu đã được thực hiện khá tốt trong giai đoạn 2014 - 2017.</p> <p><strong>ABSTRACT</strong></p> <p>This research aims to evaluate the situation of claims, denunciations and land disputes at Lien Chieu district from 2014 to 2017. The data related to claims, denunciations, and land disputes were collected and analyzed as the methodology of the research. The results reveal that the total number of petitions for claims, denunciations and land disputes was 335 incl uding 10 petitions for claims (proportion of 3%), 4 petitions for denunciations (proportion of 1.2%), 321 petitions for land disputes (proportion of 95.8%). The claims, denunciations, and land disputes were solved by the authorities in a timely manner. The results also show that 140 petitions of land disputes were solved at the wards, 181 petitions of land disputes were solved by the People's Court of Lien Chieu district including 70 petitions of reconciliation (proportion of 38.67%) and 111 petitions of the trial of the first instance (proportion of 61.33%). The research results also showed that 76.9% of respondents were satisfied with the resolution of the authorities at all levels. These evidents show that claims, denunciations and land disputes at Lien Chieu district has been well solved in the period 2014 - 2017.</p> 2018-10-31T00:00:00+00:00 ##submission.copyrightStatement## http://tapchi.huaf.edu.vn/index.php/id20194/article/view/188 Đánh giá việc thực hiện chuyển nhượng và thế chấp quyền sử dụng đất của hộ gia đình, cá nhân tại thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai 2018-10-31T03:25:54+00:00 Trần Thanh Đức tranthanhduc@huaf.edu.vn Đồng Chí Khôi tapchidhnl@huaf.edu.vn Nguyễn Trung Hải nguyentrunghai@huaf.edu.vn <p>Nghiên cứu được tiến hành tại thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai với mục tiêu chính là làm rõ thực trạng việc thực hiện chuyển nhượng và thế chấp quyền sử dụng đất của hộ gia đình, cá nhân từ sau khi Luật đất đai năm 2013 có hiệu lực. Bài báo đã sử dụng phương pháp thu thập số liệu sơ cấp và thứ cấp để thực hiện các nội dung nghiên cứu. Kết quả nghiên cứu cho thấy, chuyển nhượng quyền sử dụng đất của hộ gia đình, cá nhân trên địa bàn thành phố Biên Hòa diễn ra khá sôi động với 51.348 hồ sơ, trong đó chủ yếu thực hiện việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất ở (chiếm tỷ lệ 67,29%). Theo kết quả điều tra, có 4 nguyên nhân chính dẫn đến chuyển nhượng quyền sử dụng đất tại địa bàn nghiên cứu đó là lấy tiền để xây dựng, đầu cơ đất, lấy tiền để để đầu tư sản xuất, kinh doanh và chuyển đến nơi ở mới. Trong giai đoạn 2014 - 2017 có 39.168 hồ sơ thế chấp quyền sử dụng đất. Đa số các trường hợp thế chấp có thời hạn dưới 3 năm (chiếm 81,3% số hồ sơ). Kết quả điều tra cho thấy, lý do chính để thế chấp quyền sử dụng đất là vay vốn để đầu tư sản xuất kinh doanh (chiếm 74,53%). Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy, người dân chủ yếu đến thế chấp tại các ngân hàng và các cơ sở tín dụng (chiếm tỷ lệ 90,6%). Theo ý kiến của người dân, cần rút ngắn thời gian hoàn thành các thủ tục, giảm phí và lệ phí liên quan đến việc thực hiện quyền sử dụng đất.</p> <p><strong>ABSTRACT</strong></p> <p>The research was conducted in Bien Hoa city to clarify the real situation of implementing transfer and mortgage of land use rights of households and individuals after the 2013 Land Law. The two research methods were used including primary and secondary data collection. The results show that the mortgage of land use rights was well implemented with 51,348 dossiers, in which the transfer of residential land use is popular (67.29%). According to the survey results, there are 4 main following reasons leading to the transfer of land use rights in the study area: need for money for housing construction, land speculation, need for money for investment in production and business and moving to new place. There were 39,148 land mortgage dossiers in the period of 2014 – 2017, most of the mortgages had a term of less than 3 years (81.3%). The main reason of mortgage land use rights was to borrow money for investment in production and business (74.53%), mortgage procedures were mainly done at banks and credit offices (90.6%). The results of the household survey also show that the time for completing procedures, fees and charges for implementing the land use rights should be reduced.</p> 2018-10-31T00:00:00+00:00 ##submission.copyrightStatement## http://tapchi.huaf.edu.vn/index.php/id20194/article/view/190 Nghiên cứu một số giá thể hữu cơ thay thế cát biển trong canh tác cây hành tím tại xã Bình Hải, huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi 2018-10-31T03:36:33+00:00 Nguyễn Văn Đức nguyenvanduc@huaf.edu.vn Nguyễn Hữu Tuyển tapchidhnl@huaf.edu.vn Nguyễn Thị Vân tapchidhnl@huaf.edu.vn Châu Võ Trung Thông chauvotrungthong@huaf.edu.vn <p>Hành tím được xem là một trong những đặc sản của tỉnh Quảng Ngãi, tập trung chủ yếu ở xã ven biển Bình Hải, huyện Bình Sơn với diện tích 180 ha. Tập quán hiện nay của người dân địa phương là trồng hành tím trên giá thể cát biển phủ đất. Tập quán này làm cạn kiệt nguồn tài nguyên cát biển, gây tác động xấu đến môi trường. Nghiên cứu này nhằm đánh giá khả năng sinh trưởng, phát triển và tình hình sâu bệnh hại trồng trên một số giá thể hữu cơ thay thế cát biển phủ đất trong sản xuất hành tím tại xã Bình Hải, huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi. Kết quả nghiên cứu cho thấy: Thành phần và tỷ lệ giá thể hữu cơ theo công thức 30% phân chuồng hoai + 20% than sinh học + 30% cát biển + 20% bánh dầu đậu phộng (Công thức 3) cho kết quả tốt ở các khía cạnh: khả năng sinh trưởng và phát triển, tình hình sâu bệnh hại, năng suất.</p> <p><strong>ABSTRACT</strong></p> <p>Shallot is considered as one of the specialities of Quang Ngai province and cultivated mainly in Binh Hai commune, Binh Son district with the area of 180 ha. Custom of the local people is plant shallot on sand covered land. This practice depletes the resources of the sand, causing negative impacts on the environment. This study aims to assesst the growth and development of shallot on organic substrate to replace sand covered land in Binh Hai commune, Binh Son district, Quang Ngai province. Findings of the study show that the composition and ratio of organic substrate by 30% manure, 20% biochar, 30% sand, 20% peanut oil (CT 3) showed good results in terms of growth and development capacity, pest and disease status and yield. It is necessary to carry out more studies and applications of the Treatment 3 (CT 3) for other seasons in the year to confirm the results.</p> <p>&nbsp;</p> 2018-10-31T00:00:00+00:00 ##submission.copyrightStatement## http://tapchi.huaf.edu.vn/index.php/id20194/article/view/191 Nghiên cứu hiện trạng chất lượng nước và đánh giá khả năng tiếp nhận nước thải sông Đồng Nai giai đoạn 2012 – 2016: đoạn chảy qua tỉnh Đồng Nai 2018-10-31T03:41:03+00:00 Nguyễn Thị Hằng tapchidhnl@huaf.edu.vn Nguyễn Tri Quang Hưng tapchidhnl@huaf.edu.vn Nguyễn Minh Kỳ nmky@hcmuaf.edu.vn Thái Phương Vũ tapchidhnl@huaf.edu.vn <p>Bài báo trình bày kết quả nghiên cứu hiện trạng chất lượng nước và đánh giá khả năng tiếp nhận nước thải sông Đồng Nai. Quá trình đánh giá khả năng tiếp nhận nguồn thải được sử dụng bằng phương pháp bảo toàn khối lượng với 4 phân đoạn dòng chính sông Đồng Nai. Kết quả nghiên cứu cho thấy đoạn 1 và đoạn 2 với hàm lượng các chất ô nhiễm như chất rắn lơ lửng (TSS) và sắt (Fe) đã vượt quá khả năng tiếp nhận của dòng sông. Với các chất hữu cơ (COD, BOD5) và chất dinh dưỡng (NH4+) dòng sông có khả năng tiếp nhận thấp với lần lượt các giá trị tương ứng 31.435,82; 10.483,48 và 512,87 kg/ngày. Ở khu vực đoạn 2, tải lượng chất ô nhiễm vượt quá khả năng tiếp nhận như thành phần TSS và hàm lượng Fe. Phần lớn các thông số ô nhiễm đoạn 3 đã vượt quá mức chịu tải đối với TSS, COD, BOD5, NH4+, các vi khuẩn đường ruột, Fe và lần lượt là -862.695,90; -142.736,19; -23.821,69; -7.512,11; -2.154.500.463,12; và -65.252,48 kg/ngày. Liên quan đến đoạn 4, những thông số quan trọng như TSS, COD, BOD5, các vi khuẩn đường ruột, sắt cũng vượt quá ngưỡng giới hạn cho phép lần lượt là -303.468,74; -26.752,41; -612,97; -99.715.295,32 và -58.261,14 kg/ngày. Do đó, để bảo vệ chất lượng nước sông Đồng Nai, giải pháp tối ưu là thu gom và xử lý các nguồn nước thải từ các hoạt động công nghiệp, sinh hoạt, chăn nuôi cũng như y tế.</p> <p><strong>ABSTRACT</strong></p> <p>This paper aims to present the results of the water quality status and evaluation of wastewater receiving capacity in Dong Nai river. The assessment of the wastewater sources receiving capacity was carried out by volume preservation method with 4 sections of Dong Nai river. The results of section 1 and 2 showed polluted concentration such as TSS and Fe were exceeded river’s wastewater receiving capacity. The levels of organic matter (COD, BOD5) and nutrient (NH4+) had a lowly wastewater receiving capacity and were equal to 31,435.82; 10,483.48 and 512.87 kg/day in turn. In section 2, pollutant load was exceed wastewater receiving capacity such as TSS and Fe. Almost of parameters in the third section were exceed available wastewater receiving loads of TSS, COD, BOD5, NH4+, coliform bacteria and Fe with respectively -862,695.90; -142,736.19; -23,821.69; -7,512.11; -2,154,500,463.12; and -65,252.48 kg/day. Regarding to section 4, the important parameters loading such as TSS, COD, BOD5, coliform bacteria, Fe were also exceeded levels of allowed limit with -303,468.74; -26,752.41; -612.97; -99,715,295.32 and -58,261.14 kg/day, respectively. Therefore, to protect the water of Dong Nai River, the optimal solution is to collect and treat all wastewater sources from industrial, domestic, livestock and medical activities.</p> 2018-10-31T00:00:00+00:00 ##submission.copyrightStatement## http://tapchi.huaf.edu.vn/index.php/id20194/article/view/192 Một giải pháp tưới và phun thuốc trừ sâu tự động cho vườn cây ăn trái 2018-10-31T03:50:02+00:00 Nguyễn Chí Hiếu tapchidhnl@huaf.edu.vn Nguyễn Hoàng Dũng hoangdung@ctu.edu.vn <p>Bài báo trình bày một giải pháp tích hợp hệ thống tưới và phun thuốc tự động cho các vườn cây ăn trái. Hệ thống hoạt động dựa trên bộ điều khiển logic khả trình PLC (Programmable Logic Controller) S7-1200. Bộ điều khiển đo độ ẩm của đất xung quanh gốc cây dựa trên phương pháp nội suy tuyến tính. Tính mới của giải pháp đề nghị là phương pháp nội suy tuyến tính được áp dụng cho việc đo độ ẩm của đất nhằm giảm chi phí lắp đặt cảm biến cho người sử dụng. Việc ra lệnh động cơ bơm tưới nước dựa trên nhu cầu cần nước của cây hay độ ẩm của đất. Hơn nữa, hệ thống phun thuốc cũng được thiết lập tự động dựa vào thời gian thực của PLC. Ngoài ra hệ thống điều khiển tưới và phun thuốc được điều khiển và giám sát thông qua màn hình điều khiển giám sát và thu thập dữ liệu SCADA (Supervisory Control And Data Acquisition). Hệ thống thử nghiệm hoạt động tốt và ổn định. Kết quả này đã chứng minh tính khả thi và sẵn sàng áp dụng cho việc tưới và/hoặc phun thuốc tự động cho các vườn cây ăn trái.</p> <p><strong>ABSTRACT</strong></p> <p>The study presents an integrated solution of pesticide spraying and water sprinkling automatically system for orchards. The system is controlled and monitored based on programmable logic controllers (Programmable Logic Controller - PLC) S7-1200. The controller measures the moisture at several layers of soil around trees to get average humidity value using the linear interpolation method. The cost for sensors could be reduced if the soil moisture is interpolated. The measured moisture spray pesticide based on the set real-time of the PLC. Additionally, all processes of watering and spraying are controlled and monitored through SCADA (Supervisory Control And Data Acquisition) system. The proposed system works well and stable. The experimental results demonstrated our method is feasible and ready to apply to sprinkle water and spraying pesticide for the orchards.</p> 2018-10-31T00:00:00+00:00 ##submission.copyrightStatement## http://tapchi.huaf.edu.vn/index.php/id20194/article/view/194 Nghiên cứu đặc điểm mô bệnh học của Cá Chẽm (Lates calcarifer) cảm nhiễm Streptococcus iniae trong điều kiện thực nghiệm 2018-10-31T03:55:10+00:00 Trương Thị Hoa truongthihoa@huaf.edu.vn Đặng Thị Hoàng Oanh tapchidhnl@huaf.edu.vn <p>Nghiên cứu được thực hiện nhằm xác định một số đặc điểm mô bệnh học của Cá Chẽm (Lates calcarifer) cảm nhiễm Streptococcus iniae trong điều kiện thực nghiệm. Cá Chẽm thí nghiệm ở giai đoạn giống, có khối lượng trung bình 7,2 g/con, số lượng cá thí nghiệm là 60 con. Thí nghiệm được bố trí với 2 nghiệm thức và 3 lần lặp lại. Nghiệm thức thí nghiệm với vi khuẩn Streptococcus iniae được tiêm 0,1 mL dịch huyền phù vi khuẩn với mật độ là 1,9x105 CFU/mL. Theo dõi thí nghiệm và xác định dấu hiệu bệnh lý trong 14 ngày. Kết quả cảm nhiễm vi khuẩn Streptococcus iniae trên Cá Chẽm cho thấy sau 02 ngày cảm nhiễm cá thể hiện các dấu hiệu bệnh lý như giảm ăn, bơi lờ đờ trên mặt nước, xuất huyết trên da và gốc vây, mắt lồi và xuất huyết. Vi khuẩn Streptococcus iniae đã được phân lập lại trên các mẫu cá bị bệnh. Quan sát kính phết mẫu tươi mô lách, thận nhuộm Wright và Giemsa phát hiện nhiều cầu khuẩn Gram dương. Kết quả nghiên cứu mô học Cá Chẽm cảm nhiễm Streptococcus iniae trong điều kiện thực nghiệm cho thấy vi khuẩn Streptococcus iniae gây biến đổi cấu trúc mô của gan, thận, lách và não cá. Gan bị xuất huyết và hoại tử, melanin hóa và không bào hóa trên gan; thận bị hoại tử, mất cấu trúc, melanin hóa và gia tăng trung tâm đại thực bào sắc tố trong thận; mô lách bị biến đổi cấu trúc, trung tâm đại thực bào sắc tố tập trung nhiều trên lách; mô não bị hoại tử, màng não dày lên và xuất huyết.</p> <p><strong>ABSTRACT</strong></p> <p>This study was carried out to identify the histopathological characteristics of barramundi (Lates calcarifer) infected Streptococcus iniae. Sixty fish (average weight 7.2 g) were set up with 2 treatments in triplicate. In treatments, fish were injected (i.p. - intrapetritoneal injection) with 0.1mL Streptococcus iniae at the dose of 1.9 x 105 CFU/mL/fish, in control treatment, fish were injected with 0.1 mL saline solution 0.87% NaCl. Experiment were done in 14 days. After 2 days, infected fish showed the clinical signs consisting of anorexia, haemorrhagic on the skin surface and fins, pop- and haemorrhagic-eyed. Streptococcus iniae was recovered and identified from all moribund or dead fish. Microscopic observation of fresh smear and stained with Wright and Giemsa of spleen, kidney from these specimens revealed small cocci, gram positive bacterial cells. Histopathological analysis of Streptococcus iniae infected barramundi revealed structural changed of tissues, haemorrhage and necrosis in liver, kidney, spleen and brain.</p> 2018-10-31T00:00:00+00:00 ##submission.copyrightStatement## http://tapchi.huaf.edu.vn/index.php/id20194/article/view/195 Nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển và năng suất của một số giống lúa lai mới vụ Đông Xuân 2016 - 2017 tại Quảng Ngãi 2018-10-31T03:59:25+00:00 Trần Thị Lệ tranthile@huaf.edu.vn Nguyễn Đức Huy tapchidhnl@huaf.edu.vn <p>Đề tài được thực hiện trong vụ Đông Xuân 2016 – 2017 tại Trạm khảo nghiệm và hậu kiểm giống cây trồng Sơn Tịnh, Trung tâm khảo nghiệm giống, sản phẩm cây trồng Miền Trung, tỉnh Quảng Ngãi gồm 8 giống lúa lai AZ7133, AZ7099, AZ7901, AZ7126, AZ7601, BTE1 Vàng, KCO6-1, Long Hương 1146 và giống Nhị Ưu 838 làm giống đối chứng. Mục đích của đề tài là đánh giá khả năng sinh trưởng, phát triển và năng suất của các giống lúa lai trong điều kiện sản xuất tại Quảng Ngãi, từ đó xác định được những giống có năng suất cao, chống chịu sâu, bệnh hại và thích ứng tốt. Kết quả nghiên cứu cho thấy, 3 giống lúa lai có năng suất cao và thích ứng tốt với điều kiện sản xuất của địa phương là là BTE1 Vàng (69,2 tạ/ha), AZ7133 (69,0 tạ/ha) và KC06-1 (68,9 tạ/ha).</p> <p><strong>ABSTRACT</strong></p> <p>This study was carried out in Winter - Spring crop season 2016 - 2017 in Son Tinh Plant Variety Test and Post – Breeding Station, Center for Seed Testing and Crop Production in Central Vietnam, in Quang Ngai province, including 8 Hybrid rice varieties AZ7133, AZ7099, AZ7901, AZ7126, AZ7601, BTE1 Vang, KCO6-1, Long Huong 1146, and Nhi Uu 838 (control variety). The study aims to evaluate the growth, development and productivity of 8 Hybrid rice varieties, from which rice varieties with high yield and good adaption ability to ecological condition of Quang Ngai can be selected. The results of the Winter - Spring crop season 2016 - 2017 show that there are three rice varieties have the highest yield and higher than Nhi Uu 838 (64.8 quintals/ha) as BTE1 Vang (69.2 quintals/ ha), AZ7133 (69.0 quintals/ha), and KC06-1 (68.9 quintals/ha).</p> <p>&nbsp;</p> 2018-10-31T00:00:00+00:00 ##submission.copyrightStatement## http://tapchi.huaf.edu.vn/index.php/id20194/article/view/197 Kiến thức bản địa trong quản lý và phát triển cây mây nước của người dân Tà Ôi ở huyện A Lưới, tỉnh Thừa Thiên Huế 2018-10-31T04:08:21+00:00 Nguyễn Văn Lợi nguyenvanloi@huaf.edu.vn Hồ Thanh Hà hothanhha@huaf.edu.vn Dương Văn Thành duongvanthanh@huaf.edu.vn Hồ Đăng Nguyên hodangnguyen@huaf.edu.vn Hoàng Văn Dưỡng hoangvanduong@huaf.edu.vn <p>A Lưới là huyện miền núi nằm ở phía Tây của tỉnh Thừa Thiên Huế, là nơi phân bố tự nhiên của hai loài mây nước (mỡ và nghé), thuộc nhóm cây lâm sản ngoài gỗ, có giá trị nhất và được sử dụng rộng rãi ở miền Trung Việt Nam và vùng nhiệt đới châu Á. Nghiên cứu này được thực hiện nhằm bổ sung thêm kiến thức bản địa của người dân Tà Ôi trong quản lý và phát triển rừng mây nước nhằm bảo tồn và phát huy kiến thức bản địa của người dân địa phương góp phần quản lý rừng mây bền vững. Nghiên cứu đã áp dụng phương pháp PRA kết hợp với đánh giá các mô hình trồng mây trên thực địa. Kết quả nghiên cứu cho thấy nhiều người Tà Ôi có nhiều kinh nghiệm trong việc nhận biết đặc điểm hình thái, phân bố, cách thức khai thác các loài mây nước và một số kinh nghiệm về gây trồng và chọn cây mây mẹ lấy hạt giống phù hợp với điều kiện tự nhiên ở huyện A Lưới, tỉnh Thừa Thiên Huế.</p> <p><strong>ABSTRACT</strong></p> <p>A Luoi is a mountainous district located in the West of Thua Thien province, the distribution place of two water rattan (may nuoc) species {(Daemonorops poilanei J. Dransf. and D.jenkinsiana (Griff) Mart.}. These two rattan species have the highest economic value and widely-used among non-timber forest products (NTFPs) in central Vietnam as well as in Asian tropics. This study aims to supplement the indigenous knowledge of Ta Oi people in management and development of water rattan plants to preserve and manage the sustainable rattan forest. The research applied PRA method in combination with the evaluation of rattan models in the field. Research results show that many Ta oi people have a lot of experiences in reconizing morphological characteristics, naturral distribution, exploitation ways of rattan plants and some experiences on planting and selecting seed mother rattan in accordance with natural conditions in A Luoi district, Thua Thien Hue province.</p> 2018-10-31T00:00:00+00:00 ##submission.copyrightStatement## http://tapchi.huaf.edu.vn/index.php/id20194/article/view/198 Nghiên cứu quy trình sản xuất sữa khoai lang tím 2018-10-31T04:13:26+00:00 Huỳnh Kim Phụng huynhkimphung2703@gmail.com Ngô Thụy Xuân Anh tapchidhnl@huaf.edu.vn <p>Nghiên cứu được thực hiện nhằm mục đích tạo ra sản phẩm được làm từ nguồn nguyên liệu tự nhiên nhưng vẫn còn giữ được hàm lượng dinh dưỡng, hương vị, dễ hấp thụ và tiêu hóa cho người tiêu dùng. Các thông số trong nghiên cứu bao gồm tỷ lệ bột khoai : nước (1:20 – 1:24) dùng cho quá trình hồ hóa, tỷ lệ bột khoai : đường (1:1,5 – 1:3,5) và bột khoai : bột sữa (1:0,125 – 1:1,5) dùng cho quá trình phối trộn, cùng với thời gian giữ nhiệt (10 – 30 phút) trong quá trình thanh trùng sản phẩm ở 90oC. Kết quả cho thấy, dịch hồ hóa cho độ nhớt phù hợp tại tỷ lệ bột khoai : nước là 1:24, đạt giá trị cảm quan và hiệu quả kinh tế tốt nhất trong quá trình phối trộn tại hai tỷ lệ bột khoai:đường là 1:3 và tỷ lệ bột khoai: bột sữa là 1:0,25. Điều kiện thanh trùng thích hợp nhất cho sản phẩm sữa khoai lang tím là ở 90oC trong thời gian 25 phút.</p> <p><strong>ABSTRACT</strong></p> <p>This study aims to create a product that made from natural ingredients with maintenance of the intinial nutrient content, flavor and healthy components, easy absorption and digestion. In this study, the used parameters include the ratio of purple sweet potato powder : water (1:20 – 1:24) during gelatinizing process, the ratio of purple sweet potato powder : skimmed milk powder (1:0.125 – 1:1.5) and the ratio of purple sweet potato powder : isomalt sugar (1:1.5 – 1:3.5) during mixing, the retention of the heat time (10 – 30 minutes) during pasteurizing at 90oC. The results show that the solution had the appropriate viscosity when the ratio of purple sweet potato powder : water equaled 1:24, the best sensory value and economic efficiency were gotten at two ratios of purple sweet potato powder : skimmed milk powder = 1:0.25 and of purple sweet potato powder : isomalt sugar = 1:3. The retention time was 25 minutes for the lowest anthocyanin loss and the microbial limit and the shelf-life of the finished product was the longest when the product was pasteurizated at 90oC.</p> 2018-10-31T00:00:00+00:00 ##submission.copyrightStatement## http://tapchi.huaf.edu.vn/index.php/id20194/article/view/199 Khảo nghiệm một số giống lúa có khả năng chịu hạn tại Quảng Nam 2018-11-01T07:12:24+00:00 Trịnh Thị Sen trinhthisen@huaf.edu.vn Phan Thị Phương Nhi phanthiphuongnhi@huaf.edu.vn Nguyễn Thị Vân tapchidhnl@huaf.edu.vn Nguyễn Hồ Lam nguyenholam@huaf.edu.vn Phạm Thị Ngọc Diệp tapchidhnl@huaf.edu.vn <p>Thí nghiệm khảo nghiệm cơ bản được tiến hành trên 10 giống, bố trí theo khối ngẫu nhiên hoàn toàn (RCB), 3 lần nhắc lại trong vụ Đông Xuân 2016 – 2017. Thí nghiệm khảo nghiệm sản xuất được tiến hành trên 4 giống, bố trí không lặp, được thực hiện trong vụ Hè Thu 2017 tại huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam. Nghiên cứu nhằm xác định giống lúa có thời gian sinh trưởng ngắn, năng suất cao, phẩm chất khá, chịu hạn và chống chịu sâu bệnh tốt. Các chỉ tiêu nghiên cứu được tiến hành theo đúng quy chuẩn về khảo nghiệm giá trị canh tác và giá trị sử dụng của giống lúa (QCVN 01 – 55: 2011/BNNPTNT) và hệ thống tiêu chuẩn đánh giá cây lúa (IRRI, 2014). Từ kết quả nghiên cứu, chúng tôi tuyển chọn được 2 giống là OM4900 và GSR38 có thời gian sinh trưởng ngắn, 114 ngày trong vụ Đông Xuân 2016 – 2017, từ 93 – 101 ngàytrong vụ Hè Thu 2017, ít nhiễm sâu bệnh hại, khả năng chịu hạn tốt, dạng hạt thon dài, chất lượng cơm nấu đạt khá, hàm lượng amylose từ 13,96 – 17,33%, hàm lượng protein khá cao đạt 11%. Năng suất thực thu của các giống tuyển chọn trong vụ Đông Xuân 2016 – 2017 và Hè Thu 2017 đạt lần lượt là OM4900 (61,56; 54,04 tạ/ha), GSR38 (64,87; 49,57 tạ/ha). Cần nghiên cứu thêm một số biện pháp kỹ thuật và xây dựng mô hình cho hai giống lúa tuyển chọn để sớm đưa vào cơ cấu giống của tỉnh Quảng Nam.</p> <p><strong>ABSTRACT</strong></p> <p>The based trial experiment was carried out on 10 rice varieties, designed in randomized complete block (RCB) with three replications in cropping Spring - Winter 2016 – 2017. The production trial experiment was carried out on 4 rice varieties, designed without replication in cropping Summer Autumn 2017 in Duy Xuyen district, Quang Nam province. The study aims to indentify the rice varieties which have short growth duration, high yield, quite good quality, good drought tolerence and pest resistance. The research targets were implemented according to the National Technical Regulation on Testing for Value of Cultivation and Use of Rice varieties and the Standard Evaluation System for Rice, 2014. From the results of study, we selected two rice varieties namely OM4900 and GSR38 which have short growing time (114 days in cropping Spring Winter 2016 – 2017 and 93 – 101 days in cropping Summer Autumn 2017), less infection of pest and disease, good drought tolerance, elongated shape grain, quite good cooking quality, amylose content from 13.96 to 17.33%, and high protein content (11%). Actually yield of the selected rice varieties in croppings Spring - Winter 2016 – 2017 and Summer - Autumn 2017 attain 61.56; 54.04 quintals/ha in OM4900 and 64.87; 49.57 quintals/ha in GSR38, respectively. It needs to study further in some technical methods and build models for two selected rice varieties to supplement into the rice variety structure of Quang Nam province.</p> 2018-10-31T00:00:00+00:00 ##submission.copyrightStatement## http://tapchi.huaf.edu.vn/index.php/id20194/article/view/200 Ảnh hưởng của mật độ trồng và phân bón đến sinh trưởng, năng suất và chất lượng của cây cà gai leo (Solanum hainanense Hance) tại huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An 2018-10-31T07:20:35+00:00 Trịnh Thị Thanh thanhttud@gmail.com Trương Xuân Sinh tapchidhnl@huaf.edu.vn Nguyễn Tài Toàn tapchidhnl@huaf.edu.vn Phan Xuân Diệu tapchidhnl@huaf.edu.vn Lê Văn Khánh tapchidhnl@huaf.edu.vn <p>Thí nghiệm đồng ruộng được thực hiện tại xã Chi Khê, huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An (từ tháng 11/2017 đến 4/2018) để nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ trồng và công thức phân bón đến sinh trưởng, năng suất và chất lượng của cây cà gai leo. Thí nghiệm được thiết kế theo kiểu ô lớn ô nhỏ với 3 công thức phân bón (P1, P2 và P3) được bố trí vào các ô lớn có diện tích 40 m2 và 4 mật độ trồng (M1, M2, M3 và M4) được bố trí vào các ô phụ có diện tích 10 m2. Kết quả nghiên cứu cho thấy, năng suất thực thu đạt cao nhất khi bón phân ở lượng 20 tấn phân chuồng + 200 kg N + 150 kg P2O5 + 125 kg K2O/ha và trồng ở mật độ 11,11 vạn cây/ha (30 x 30 cm). Ở công thức bón phân và mật độ trồng này cũng cho hàm lượng glycoalkaloid toàn phần tính theo solasodine và hiệu quả kinh tế cao nhất.</p> <p><strong>ABSTRACT</strong></p> <p>The field experiment was conducted at Chi Khe commune, Con Cuong district, Nghe An province (from November 2017 to April 2018), aiming at studying the effect of density and fertilizer formula on the growth, yield and quality of Solanum hainanense Hance. The experiments were laid out in a split plot design with 3 fertilizer formula: (P1, P2 and P3) were assigned randomly to the main plots and 4 levels of density (M1, M2, M3 and M4) were assigned to the sub plots with area of 10 m2. Results show that the optimum yield is highest when applied fertilizer formula 200 kg N + 150 kg P2O5 + 125 kg K2O and planted at density 11.11 ten thousand tree/ha (30 x 30 cm). This treatment brings the highest glycoalkaloid content and the economic effect.</p> 2018-10-31T00:00:00+00:00 ##submission.copyrightStatement## http://tapchi.huaf.edu.vn/index.php/id20194/article/view/201 Nghiên cứu ảnh hưởng của MgSO4 đến sinh trưởng, phát triển và năng suất một số giống lạc vụ Xuân tại Hà Tĩnh 2018-10-31T07:26:34+00:00 Nguyễn Đình Thi nguyendinhthi@huaf.edu.vn Phan Văn Huân tapchidhnl@huaf.edu.vn <p>Thí nghiệm nghiên cứu của chúng tôi được bố trí theo phương pháp ô lớn - ô nhỏ với 3 lần nhắc lại, tiến hành trên 3 giống lạc (L14, L29 và TK10) và 4 liều lượng phân MgSO4 (K0 = 0, K1 = 30, K2 = 60 và K3 = 90 kg MgSO4/ha) trong vụ Xuân 2018 trên nền đất cát trồng lạc xã Thạch Hội, huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh nhằm xác định vai trò và liều lượng bón MgSO4 phù hợp cho cây lạc. Kết quả mới của nghiên cứu này là: 1) Bón MgSO4 đã có tác dụng nâng cao các chỉ tiêu sinh trưởng phát triển thân lá, số cành và chiều dài cành, tích lũy chất khô, số lượng và khối lượng nốt sần, các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của cả 3 giống lạc thí nghiệm L14, L29 và TK10. 2) Trong điều kiện sản xuất lạc vụ Xuân tại Hà Tĩnh, bón MgSO4 với liều lượng 60 kg/ha và 90 kg/ha đã đem lại hiệu quả kinh tế cao. Giống L14 đạt năng suất 3,589 – 4,220 tấn/ha, chỉ số VCR đạt 41,4 – 58,4. Giống L29 đạt năng suất 3,636 – 3,940 tấn/ha, chỉ số VCR đạt 41,2 – 41,5. Giống TK10 đạt năng suất 3,432 – 4,055 tấn/ha, chỉ số VCR đạt 45,5 – 58,0.</p> <p><strong>ABSTRACT</strong></p> <p>The experiment was arranged in a split - plot with three repetitions, conducted on three peanuts varieties (L14, L29 and TK10) and four doses of MgSO4 ((K0 = 0, K1 = 30, K2 = 60 and K3 = 90 kg MgSO4/ha) in the spring of 2018 on sandy soil at Thach Hoi commune, Thach Ha district, Ha Tinh province. The study aims to determine the role and the suitable dosage of MgSO4 for peanuts. The research results indicate that: 1) The MgSO4 application has increased the growth of stem and leaf, number and length of branches, accumulation of dry matter, the number and weight of nodules, yield components and yield of all three peanuts varieties of the experiment (L14, L29 and TK10); 2) In terms of spring season peanuts production in Ha Tinh, the application of MgSO4 at 60 kg/ha and 90 kg/ha has given the high economic efficiency. The L14 variety yields 3.589 – 4.220 ton/ha and VCR = 41.4 – 58.4. The L29 variety yields 3.636 – 3.940 ton/ha and VCR = 41.2 – 41.5. The TK10 variety yields 3.432 – 4.055 ton/ha and VCR = 45.5 – 58.0.</p> <p>&nbsp;</p> 2018-10-31T00:00:00+00:00 ##submission.copyrightStatement## http://tapchi.huaf.edu.vn/index.php/id20194/article/view/202 Ảnh hưởng của một số yếu tố đến khả năng thủy phân khô dầu lạc trong sản xuất nước tương bởi chế phẩm hỗn hợp Aspergillus oryzae KZ3 và Aspergillus awamori HK1 2018-10-31T07:30:28+00:00 Nguyễn Hiền Trang nguyenhientrang@huaf.edu.vn Dương Thị Hương tapchidhnl@huaf.edu.vn <p>Nghiên cứu này khảo sát một số yếu tố ảnh hưởng như tỷ lệ chế phẩm hỗn hợp nấm mốc, thời gian, nhiệt độ và pH đến khả năng thủy phân khô dầu lạc của chế phẩm hỗn hợp nấm mốc A. oryzae KZ3 và A. awamori HK1 và đánh giá chất lượng sản phẩm nước tương sau quá trình lên men. Các phương pháp sử dụng trong quá trình nghiên cứu là: phương pháp Kjeldahl, phương pháp chuẩn độ N – fomol, phương pháp sắc ký lỏng hiệu năng cao, phương pháp đếm khuẩn lạc trực tiếp, phương pháp MPN và phương pháp đánh giá cảm quan. Kết quả nghiên cứu cho thấy hàm lượng đạm tổng số và amino acid thu được cao nhất là 63,66% và 1,8 g/l khi bổ sung 0,4% chế phẩm; độ ẩm cơ chất ban đầu là 55%; thời gian thủy phân khô dầu lạc là 72 giờ trong môi trường pH 5 ở nhiệt độ thủy phân là 55oC. Sản phẩm nước tương lên men bằng chế phẩm hỗn hợp nấm mốc này đạt chất lượng theo TCVN 1763:2008 với giá trị hàm lượng nitơ toàn phần là 2,39 g/100ml; tổng số vi khuẩn hiếu khí ≤ 20000 tb/ml; không phát hiện thấy Escherichia coli, các vi khuẩn đường ruột và độc tố aflatoxin; đặc biệt không có mùi và vị lạ.</p> <p><strong>ABSTRACT</strong></p> <p>This study aims to investigate the effect of some factors such as composition, time, temperature and pH to the hydrolysis of peanut meal by A. oryzae KZ3 and A. awamori HK1 mixed the preparations and evaluate the quality of soy sauce production after fermented processing. The methods used in the study were: Kjeldahl method, N-fomol titration method, high performance liquid chromatography method, direct colony count method, MPN method and sensory evaluation method. The results show that the total protein and amino acid content highest were 63.66% và 1.8 g/l when supplemented with 0.4% preparations; initial substrate moisture content of 55%; the hydrolysis time of peanut meal was 72 hours in pH = 5 and at hydrolysis temperature of 55°C. Producted soy sauce femented from peanut meal by this mixed molds met the requirement of the Vietnam Standard 1763:2008 with a total nitrogen content of 2.39 g/100 ml; total aerobic bacteria ≤ 20000 tb/ml; Escherichia coli, coliform bacteria and aflatoxin were not detected; especially no smell and strange taste.</p> 2018-10-31T00:00:00+00:00 ##submission.copyrightStatement## http://tapchi.huaf.edu.vn/index.php/id20194/article/view/203 Đánh giá ảnh hưởng của sự suy giảm nguồn tài nguyên nước dưới đất đến hoạt động sinh hoạt và sản xuất nông nghiệp tại thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng 2018-10-31T07:35:52+00:00 Nguyễn Lê Trạng tapchidhnl@huaf.edu.vn Trần Thị Lệ Hằng ttlhang@ctu.edu.vn Nguyễn Ngọc Diệp tapchidhnl@huaf.edu.vn Nguyễn Thái Ân tapchidhnl@huaf.edu.vn Văn Phạm Đăng Trí tapchidhnl@huaf.edu.vn <p>Nghiên cứu thực hiện nhằm đánh giá ảnh hưởng của sự suy giảm nguồn tài nguyên nước dưới đất đến sinh hoạt và hoạt động sản xuất nông nghiệp (cây màu ngắn ngày) và nuôi trồng thủy sản tại vùng ven biển thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng. Các số liệu được thu thập dựa trên phương pháp phỏng vấn cấu trúc các bên có liên quan (nông hộ và cán bộ địa phương) nhằm xác định mức độ ảnh hưởng của sự suy giảm nguồn tài nguyên nước dưới đất đến sinh hoạt và hoạt động sản xuất nông nghiệp của người dân tại địa phương. Kết quả nghiên cứu cho thấy nước dưới đất đang có dấu hiệu suy giảm về trữ lượng từ đó gây ra những khó khăn nhất định trong việc khai thác và sử dụng nguồn tài nguyên này. Việc bơm nước tưới cho cây trồng và sinh hoạt bị hạn chế (đặc biệt là vào mùa khô, từ tháng 11 đến tháng 5) dẫn đến năng suất hành tím giảm từ 20 - 30%, hơn 60% hộ dân thiếu nguồn nước sạch sử dụng trong mùa khô. Từ đó, làm tăng chi phí trong sinh hoạt (khoan thêm giếng sâu hơn, đường kính ống khoan lớn hơn) và sản xuất (tăng chi phí tiền điện, nâng cấp thiết bị khai thác) dẫn đến lợi nhuận của người dân trong sản xuất nông nghiệp giảm. Kết quả của nghiên cứu có ý nghĩa trong việc hỗ trợ ra quyết định quản lý nguồn tài nguyên nước dưới đất tại thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng nói riêng và các tỉnh ven biển Đồng bằng sông Cửu Long nói chung.</p> <p><strong>ABSTRACT</strong></p> <p>The research was conducted to assess the impacts of groundwater resources degradation on domestic, agricultural activities (including upland crops) and aquacuture in coastal areas of the Vinh Chau District, Soc Trang Province. Data were collected based on structured interviews with relevant stakeholders (including households and local government) to assess the impacts of declining groundwater resources on domestic consumption and agriculture activities. The obtained results showed that the groundwater resources were degraded in terms of quantity, causing difficulties in exploiting and using. The irrigation of crops and the supply of domestic water was limited (especially in the dry season, from November to May), leading to the productivity of shallot decreased from 20% to 30%, the lack of freshwater in the dry season to over 60% of households.So that, domestic consumption costs (including drilling of deeper wells, increasing drilling pipe diameter) and production (increasing electricity bill cost, upgrading mining equipment) increased, leading to a reduction of financial profitability. The results of the study may help in supporting groundwater resources management in the Vinh Chau District in particular and coastal provinces in the Mekong Delta in general.</p> 2018-10-31T00:00:00+00:00 ##submission.copyrightStatement##