http://tapchi.huaf.edu.vn/index.php/id20194/issue/feed Tạp chí Khoa học và công nghệ nông nghiệp, Trường Đại học Nông Lâm Huế 2020-01-14T08:01:08+00:00 Ban biên tập Tạp chí tapchidhnl@huaf.edu.vn Open Journal Systems Tạp chí Khoa học và công nghệ nông nghiệp, trường Đại học Nông Lâm, Đại học Huế http://tapchi.huaf.edu.vn/index.php/id20194/article/view/288 XÂY DỰNG HỆ THỐNG NỘP VÀ TRA CỨU TIẾN ĐỘ GIẢI QUYẾT HỒ SƠ ĐĂNG KÝ BIẾN ĐỘNG ĐẤT ĐAI TRỰC TUYẾN TẠI QUẬN 6, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 2019-12-25T09:24:38+00:00 Trương Đỗ Thùy Linh truongdothuylinh@hcmuaf.edu.vn Nguyễn Ngọc Thy truongdothuylinh@hcmuaf.edu.vn <p>Với hệ thống cơ sở dữ liệu địa chính hiện có, Quận 6, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM) có đủ điều kiện để triển khai mô hình dịch vụ hành chính công trực tuyến mức độ 3 trong lĩnh vực quản lý đất đai nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho người dân, tổ chức và doanh nghiệp khi giao dịch hành chính, đồng thời giảm áp lực công việc của cơ quan quản lý nhà nước và hướng đến một nền hành chính điện tử, hiện đại. Bằng việc sử dụng các phương pháp: thu thập tài liệu, dữ liệu; phỏng vấn; phân tích, tổng hợp; phân tích, thiết kế hướng đối tượng và ứng dụng công nghệ thông tin (cụ thể là sử dụng ngôn ngữ lập trình C# và nền tảng Microsoft ASP.NET), nghiên cứu đã xây dựng và vận hành thử nghiệm thành công hệ thống hỗ trợ nộp và tra cứu tiến độ giải quyết hồ sơ đăng ký biến động đất đai trực tuyến cho Quận 6, TP.HCM. Kết quả đạt được giúp tạo điều kiện thuận lợi cho các đối tượng trong xã hội tiếp cận thông tin và thực hiện dễ dàng, nhanh chóng, thuận tiện các thủ tục hành chính về đất đai mọi lúc, mọi nơi thông qua mạng internet. Từ đó, giúp minh bạch hóa tiến trình giải quyết hồ sơ đất đai, làm tiền đề cho công tác hiện đại hóa hệ thống Văn phòng đăng ký đất đai một cấp cũng như từng bước cải cách và hiện đại hóa nền hành chính quản lý đất đai của địa phương.</p> <p><strong>ABSTRACT</strong></p> <p>With the current cadastral database and infrastructure, district 6, Ho Chi Minh city is fully qualified to deploy the 3<sup>rd</sup>-level online public administrative service in land management, which aims to create favorable conditions for people, organizations and enterprises in administrative transaction. At the same time, this model helps reduce stress at work for the State administrative agencies and becomes a modern electronic administration. By using the methods such as collecting documents and data, interview, analysis and synthesis; &nbsp;the methods of object-oriented analysis, design, and the application of information technology (with C# programming language and Microsoft ASP.NET framework), the research has successfully developed and tested an online system for submission and following up the profile handling progress of land-use change registration in district 6, Ho Chi Minh city. The result facilitates for those who would like to access land information and carry out the procedures of land-use change registration easily, fast and conveniently anytime and anywhere via the internet. Moreover, this system clarifies the process of handling land profiles in district 6 and creates a premise to improve the model of One-level Land Registration Office as well as modernize the land administration system in Vietnam.</p> <p>&nbsp;</p> 2019-12-25T00:00:00+00:00 ##submission.copyrightStatement## http://tapchi.huaf.edu.vn/index.php/id20194/article/view/290 KHẢO SÁT MỘT SỐ HỢP CHẤT CÓ KHẢ NĂNG KHÁNG OXY HÓA, KHÁNG KHUẨN VÀ KHÁNG NẤM CỦA CAO CHIẾT LÁ BÌNH BÁT NƯỚC (Annona glabra L.) 2019-12-25T10:14:44+00:00 Lương Phong Dũ dum0517016@gstudent.ctu.edu.vn Đỗ Thị Phương Dung dum0517016@gstudent.ctu.edu.vn Nguyễn Đức Độ dum0517016@gstudent.ctu.edu.vn <p>Mục tiêu của nghiên cứu này nhằm đánh giá một phần hoạt động kháng oxy hóa, kháng khuẩn, kháng nấm của lá bình bát nước (<em>Annona glabra</em> L.). Hai nghiệm thức cao chiết lá bình bát nước được ly trích lần lượt trong hai dung môi ethanol và methanol. Kết quả cho thấy hàm lượng phenol tổng lớn nhất ở nghiệm thức lá - methanol (LM) và nhỏ nhất ở nghiệm thức lá- ethanol (LE) với giá trị lần lượt là 37,8 và 31,8 mg GAE/g chiết xuất. Khả năng kháng oxy hóa của các nghiệm thức cao chiết được đánh giá qua khả năng khử gốc tự do DPPH (2,2- Diphenyl-1-picrylhydrazyl) và H<sub>2</sub>O<sub>2 &nbsp;</sub>(hydrogen peroxide). Cao chiết methanol với giá trị IC<sub>50</sub> lần lượt là 59,03 μg/mL; 139,27 μg/mL cho khả năng kháng oxy hóa mạnh nhất và yếu nhất ở cao chiết ethanol với giá trị IC<sub>50</sub> lần lượt là 131,47 &nbsp;μg/mL; 156,45 μg/mL so sánh dựa trên IC<sub>50</sub> của vitamin C. Hiệu quả kháng hai dòng vi khuẩn <em>B. subtilis</em>, <em>E. coli </em>của cao methanol và ethanol khá tốt, vượt trội hơn so với đối chứng dương ampicillin 5 mg/mL. Ngoài ra, cả hai nghiệm thức cao còn thể hiện hiệu quả ức chế dòng nấm <em>C. albicans</em> qua phương pháp khảo sát khuếch tán giếng thạch.</p> <p><strong>ABSTRACT</strong></p> <p>The objective of this study was to partially evaluate on activities of antioxidant, antimicrobial and antifungal of Pond Apple (<em>Annona glabra</em> L.) leaves extracted from methanol and ethanol. The leaf extracts were presented some phytochemicals such as phenolics, tannins, flavonoids, alkaloids, carotenoids, triterpenoids, steroids, quinones and saponins. The total phenolics content was the highest in methanol leaf extract (LM) and the lowest in ethanol leaf extract (LE) with 37.828 and 31.828 mg gallic acid equivalents g-1 of extract, respectively. The most effective antioxidant activity was LM, in which the IC<sub>50</sub> value of DPPH free radical scavenging capacity was 59.03 μg/mL. On the other hand, LE was the least effective with IC<sub>50</sub> value at 131.47 μg/mL. With the methods of scavenging hydrogen peroxide, LM demonstrated the highest antioxidant activity with the lowest IC<sub>50</sub> value (139.27 μg/mL), LE (IC<sub>50</sub> value = 156.45 μg/mL) was the lowest antioxidant efficacy. In addition, the efficacy against <em>B. subtilis</em>, <em>C. albicans</em>, <em>E. coli</em> was superior to the 5 mg/mL ampicillin and 4 μg/mL nystatin. There was a correlation between the content of bioactive compounds and antioxidant, antimicrobial, antifungal activities of different solvent polarities. Furthermore, these results indicated that&nbsp;the Pond Apple&nbsp;could be used in potentially dietary applications to reduce oxidative stress and human diseases.</p> <p>&nbsp;</p> 2019-12-25T00:00:00+00:00 ##submission.copyrightStatement## http://tapchi.huaf.edu.vn/index.php/id20194/article/view/292 NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN VÀ NĂNG SUẤT CỦA MỘT SỐ GIỐNG LÚA CHẤT LƯỢNG CAO TẠI TỈNH QUẢNG TRỊ 2019-12-25T10:25:31+00:00 Trần Thị Lệ tranthile@huaf.edu.vn Trương Thị Hồng Phương tranthile@huaf.edu.vn <p><strong>TÓM TẮT</strong></p> <p>Đề tài được thực hiện trong vụ Đông Xuân 2017-2018 tại Công ty giống cây trồng Quảng Trị, xã Gio Mỹ, huyện Gio Linh, tỉnh Quảng Trị gồm 9 giống lúa QNg6, DT100, N26, LTH31, TBR279, BDR07, TL-12, BQ, BDR27, và giống HT1 là giống đối chứng. Mục đích của đề tài là đánh giá khả năng sinh trưởng, phát triển, năng suất và chất lượng của các giống lúa trong điều kiện sản xuất tại Quảng Trị, từ đó xác định được những giống chất lượng, năng suất cao, chống chịu sâu, bệnh hại, và thích ứng tốt. Kết quả nghiên cứu cho thấy, 3 giống lúa có năng suất cao và chất lượng tốt, thích ứng tốt với điều kiện sản xuất của địa phương là DT100 (68,0 tạ/ha), BDR279 (65,6 tạ/ha) và QNg6 (62,9 tạ/ha).</p> <p><strong>ABSTRACT</strong></p> <p>This research was carried out in Winter-Spring crop 2017-2018 at Quang Tri Seed Company, Gio My commune, Gio Linh district, Quang Tri province, including 9 rice varieties, named QNg6, DT100, N26, LTH31, TBR279, BDR07, TL-12, BQ, BDR27 and HT1, in which HT1 is seen as the control variety. The purpose of this study is to evaluate growth, development and productivity of 9 rice varieties with high quality, to select rice varieties with high yielding quality and to adapt with ecological conditions of Quang Tri. The results of study showed that there were three rice varieties that have had high yielding quality and good resistance to pests and diseases, including DT100 (68.0 quintals/ha), BDR279 (65.6 quintals/ha) and QNg6 (62.9 quintals/ha).</p> <p>&nbsp;</p> 2019-12-25T00:00:00+00:00 ##submission.copyrightStatement## http://tapchi.huaf.edu.vn/index.php/id20194/article/view/294 ẢNH HƯỞNG CỦA LOẠI VÀ LƯỢNG THAN SINH HỌC ĐẾN SINH TRƯỞNG VÀ NĂNG SUẤT CẢI XANH TRÊN ĐẤT CÁT 2019-12-25T10:31:31+00:00 Huỳnh Phan Khánh Bình kbinh@hotmail.com.vn Trần Mỹ Viên kbinh@hotmail.com.vn Trương Thị Nga kbinh@hotmail.com.vn <p>Bổ sung than sinh học vào đất cát trồng cải xanh nhằm đánh giá ảnh hưởng của loại và lượng than sinh học đến sự sinh trưởng và năng suất cây. Thí nghiệm sử dụng 03 loại than tràm, than tre và than trấu được tạo từ phương pháp truyền thống, bố trí kiểu khối hoàn toàn ngẫu nhiên với 2 nhân tố: loại than sinh học (than tràm, than tre, than trấu) và lượng than sinh học bổ sung vào đất (10, 20, 30 g than sinh học/kg đất). Kết quả cho thấy bổ sung than sinh học vào đất giúp cải xanh sinh trưởng tốt hơn, dẫn đến tăng năng suất thu hoạch khi so với nghiệm thức đối chứng không bổ sung than sinh học. Than sinh học từ trấu cho hiệu quả cao hơn 2 loại còn lại ở các mức bổ sung, cụ thể: chiều cao cây tăng 22 – 36%, chiều dài lá tăng 18 – 32%, chiều rộng lá tăng 35 – 46% và năng suất tăng 72 – 151% khi so với đối chứng. Cải xanh cũng chịu ảnh hưởng tương tác giữa loại và lượng than sinh học bổ sung vào đất, đối với than trấu mức bổ sung 20 g than/kg đất là tối ưu cho sự phát triển của cây, đối với than tràm và than tre là 30 g than/kg đất. Kết quả nghiên cứu là cơ sở để lựa chọn lượng than phù hợp với từng loại than sinh học tùy vào điều kiện sẵn có để áp dụng vào thực tế có hiệu quả nhất.</p> <p><strong>ABSTRACT</strong></p> <p>Adding biochar to sandy soil being planted mustard greens (<em>Brassica juncea</em> L.) aims to evaluate the effect of types and rates of biochar to growth and productivity of crops. Three types of biochar derived from Melaleuca (ML), Bamboo (BB), and Rice husk (RH) were produced by the Vietnamese traditional method. The experimental design consisted of two elements (types and rates of biochar) accidentally added by blocks design (RCB). The results showed that adding biochar to sandy soil helped improve for growth of mustard greens (<em>Brassica juncea</em> L.), leading to increase productivity compared with the control (without biochar). The results of rice husk biochar treatments were better than ML and BB biochar such as height increased 22 – 36%, leaf length increased 18 – 32%, leaf width increased 35 – 46% and productivity of crops increased 72 – 151% compared with the control. Mustard greens (<em>Brassica juncea</em> L) is also influenced by the types and the rates of adding biochar to the soil such as 20 g biochar/kg of soil for RH biochar is optimal of growth of plants,&nbsp;&nbsp; and ML/BB biochar is 30 g biochar/kg soil. The results of the study are the base to choose the application rate for each type of biochar depending on available condition to effectively apply in production.</p> 2019-12-25T00:00:00+00:00 ##submission.copyrightStatement## http://tapchi.huaf.edu.vn/index.php/id20194/article/view/295 KHẢ NĂNG KHÁNG NẤM MỐC GÂY BỆNH THÁN THƯ TRÊN CHUỐI VÀ ỚT SAU THU HOẠCH CỦA DỊCH CHIẾT GỪNG 2019-12-25T10:36:25+00:00 Nguyễn Thỵ Đan Huyền nguyenthydanhuyen@huaf.edu.vn Lê Thanh Long nguyenthydanhuyen@huaf.edu.vn <p>Nghiên cứu này nhằm đánh giá hoạt tính kháng nấm <em>Colletotrichum musae </em>và nấm <em>Colletotrichum gloeosporioides </em>gây bệnh thán thư hại chuối và ớt từ dịch chiết gừng <em>(Zingiber officinale)</em>. Ảnh hưởng của dịch chiết gừng ở nồng độ 2,5; 5; 7,5, 10; 15 và 20% đến hình thái tản nấm, sự hình thành sinh khối đã được xác định thông qua đường kính tản nấm, sinh khối khô sợi nấm và sự ức chế bào tử nảy mầm ở điều kiện <em>in vitro</em>. Dịch chiết gừng ở nồng độ 20% đã ức chế 89,21% sự phát triển đường kính tản nấm <em>C. musae</em> và ức chế 65,58% sự phát triển đường kính tản nấm <em>C. gloeosprioides</em> sau 192 giờ nuôi cấy. Nồng độ 10% của dịch chiết gừng ức chế tương ứng 89,69% và 71,38% sinh khối khô sợi nấm <em>C. musae </em>và nấm <em>C. gloeosporioides</em> sau 168 giờ. Quan sát dưới kính hiển vi sau 12 giờ cho thấy, dịch chiết gừng nồng độ 10% ức chế 97,33% và 94,00% sự nảy mầm bào tử nấm <em>C. musae </em>và nấm <em>C. gloeosporioides. </em>Những kết quả trên là tiền đề cho các nghiên cứu tiếp theo ở điều kiện <em>in vivo</em> trong việc bổ sung dịch chiết gừng vào các chế phẩm phun kháng nấm bệnh sau thu hoạch trên chuối và ớt.</p> <p><strong>ABSTRACT</strong></p> <p>This study aims to evaluate the antifungal activities of<em> Colletotrichum musae</em> and <em>Colletotrichum gloeosporioides </em>caused anthracnose by ginger extracts harmful to bananas and chilies (<em>Zingiber officinale</em>). The effect of ginger extracts with the concentration of 2,5; 5; 7,5; 10; 15 and 20% to fungal morphology, biomass formation was determined through diameter of fungal colonies, dry biomass and germination rate of fungus spores <em>in vitro</em> condition. The concentration of 20 % of ginger extracts inhibited 89.21% and 61.45% of diameter growth of fungal colony of <em>C. musae</em> <em>C. gloeosporioides</em> after 192 hours of growth, respectively. The concentration of 10% of ginger extracts deactivated 89,69% and 71,38% of dry biomass of <em>C. musae </em>and <em>C. gloeosporioides</em>, respectively after 168 hours of growth. Observation under the microscope after 12 hours showed that 10% of ginger extracts inhibited 97,33% and 94,00% for germination of <em>C. musae </em>and <em>C. gloeosporioides</em> spores, respectively<em>. </em>These results create a premise for further studies <em>in vivo</em> condition to supplement ginger extracts to antifungal preparations on bananas and chilies after harvesting.</p> 2019-12-25T00:00:00+00:00 ##submission.copyrightStatement## http://tapchi.huaf.edu.vn/index.php/id20194/article/view/296 ĐIỀU TRA HIỆN TRẠNG VÀ LẬP KẾ HOẠCH KHAI THÁC BỀN VỮNG LOÀI MÂY NƯỚC (Daemonorops poilanei) TẠI BAN QUẢN LÝ RỪNG PHÒNG HỘ NAM ĐÔNG, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ 2020-01-14T08:01:08+00:00 Hồ Thanh Hà hothanhha@huaf.edu.vn Nguyễn Thị Thương hothanhha@huaf.edu.vn Trần Hữu Hùng hothanhha@huaf.edu.vn Trần Thị Lệ Xuân hothanhha@huaf.edu.vn <p>Nghiên cứu này đã được tiến hành nhằm xác định hiện trạng, trên cơ sở đó lập kế hoạch khai thác bền vững loài Mây nước tại ban quản lý rừng phòng hộ Nam Đông giai đoạn 2019 - 2023. Nghiên cứu đã tiến hành điều tra trên 4.757 ô tiêu chuẩn 200 m2 được bố trí theo các tuyến cách nhau 667 m. Số liệu được phân tích và tổng hợp với sự hỗ trợ của phần mềm Microsoft Excel 2010 và SPSS phiên bản 20.0 để xác định lượng tăng trưởng hàng năm và sản lượng khai thác bền vững cho giai đoạn 2019 - 2023. Kết quả cho thấy, Mây nước phân bố ở hầu hết các hiện trạng rừng. Phân bố số cây theo cấp chiều cao của Mây nước có dạng giảm cho thấy tiềm năng phát triển của loài cây này rất lớn. Lượng tăng trưởng hàng năm nhỏ nhất ở cấp chiều cao nhỏ hơn 1 mét (0,33 m/năm) và cao nhất là các cấp chiều cao trên 3 mét (0,91 m/năm). Dựa vào tổng lượng tăng trưởng hàng năm, số cây và trữ lượng của những cây có chiều cao trên 5 mét đã xây dựng được tổng lượng khai thác bền vững loài Mây nước với cường độ khai thác là 75% tổng lượng tăng trưởng là tối ưu nhất. Theo phương án này, lượng Mây nước có thể khai thác tăng dần từ 188 tấn vào năm 2019 đến 358 tấn vào năm 2023 trên diện tích rừng tham gia chứng chỉ FSC tại BQLRPH Nam Đông</p> <p><strong>ABSTRACT</strong></p> <p>This study was conducted to determine the current status, aiming at developing a plan for sustainable harvesting of <em>D. poilanei </em>rattan in Nam Dong Protection Forest Management Board for the period of 2019 - 2023. About 4,757 sample plots of 200 m<sup>2</sup> were arranged in lines, distance between lines was 667 m. The data was analyzed and synthesized with the support of Microsoft Excel 2010 and SPSS version 20.0 to determine the annual growth and sustainable harvesting productivity of the period 2019 - 2023. As a result, <em>D. poilanei</em> rattan was distributed in most forest conditions. The distribution of trees according to the height of <em>D. poilanei</em> rattan has reduced form showing the potential development of these species are significant. The smallest annual growth rate was at the height of less than 1 meter (0.33 m/year) and the highest was the height of over 3 meters (0.91 m/year). Based on the total annual growth, the number of trees and the volume of trees with a height of over 5 meters were built a sustainable harvesting plan of <em>D. poilanei</em> rattan, and the harvesting intensity of 75% of the total growth is the best solution. According to this plan, the quantity of <em>D. poilanei</em> can be harvested gradually increased from 188 tons in 2019 to 358 tons in 2023 for the total FSC area in Nam Dong Forest Protection Management Board.</p> 2019-12-25T00:00:00+00:00 ##submission.copyrightStatement## http://tapchi.huaf.edu.vn/index.php/id20194/article/view/297 XÁC ĐỊNH MỘT SỐ TÍNH CHẤT CÓ LỢI CỦA CÁC CHỦNG VI KHUẨN LACTIC PHÂN LẬP ĐƯỢC TỪ MẮM RUỐC HUẾ 2019-12-26T02:29:33+00:00 Đỗ Thị Bích Thủy dothibichthuy@huaf.edu.vn Nguyễn Thị Diễm Hương dothibichthuy@huaf.edu.vn Đinh Thị Thu Thanh dothibichthuy@huaf.edu.vn <p>Nghiên cứu nhằm xác định khả năng chịu muối của mười chủng vi khuẩn lactic được ký hiệu lần lượt là (R1, R2, R5, R6, R8, R11, R12, R14, R15 và R18) thuộc loài <em>Lactobacillus fermentum</em> được phân lập từ mắm ruốc Huế. Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng tất cả các chủng khảo sát đều có thể phát triển trong các nồng độ muối từ 5% đến 25% trong thời gian nuôi cấy là 48 giờ. Trong đó, chủng R5 có khả năng chịu muối cao nhất, OD<sub>600nm </sub>đo được sau khi nuôi cấy chủng R5 trong 48 giờ với nồng độ muối 25% là 0,1864. Vì vậy, chủng này được chọn đẻ xác định khả năng chịu axit, khả năng kết dính và khả năng kháng khuẩn. Số tế bào sống sót của chủng R5 sau ba giờ&nbsp; ủ ở pH 2 là 8,0043 logCFU/ml. Khả năng tự kết dính và đồng kết dính của chủng R5 lần lượt là 23,17% và 24,85%. Khả năng kháng khuẩn của chủng vi khuẩn R5 với chỉ thị <em>Salmonella</em> và <em>E. coli</em> tương đối cao với đường kính vòng kháng khuẩn dao động trong khoảng 11-12 mm. Bên cạnh đó, chúng tôi còn tiến hành xác định hàm lượng nitơ formol và lượng NH<sub>3</sub> trong nước mắm truyền thống khi bổ sung một lượng tế bào vi khuẩn lactic. Kết quả cho thấy sau một khoảng thời gian khảo sát nhất định, nước mắm đã được bổ sung một lượng tế bào vi khuẩn lactic <em>Lactobacillus fermentum</em> R5 có hàm lượng nitơ formol tăng lên và hàm lượng NH<sub>3</sub> giảm xuống.</p> <p><strong>ABSTRACT</strong></p> <p>The study aims to determine the salt tolerance of ten lactic acid strains, denoted as (R1, R2, R5, R6, R8, R11, R12, R14, R15 and R18) of <em>Lactobacillus fermentum</em> isolated from mam ruoc Hue. The results of the study showed that all of the strains were able to grow the concentration of NaCl from 5% to 25% during 48 hours of incubation. The R5 strain had the highest salt intolerance. OD600nm measured after incubating the R5 strain for 48 hours containing 25% NaCl was 0.1864. Hence, this strain was selected to study on some properties of probiotic potential, acid intolerance, auto-aggregation and inhibition of bacterial growth. The number of viable cells of the R5 strain after three hours of incubation at pH 2 was 8,0043 logCFU/ml. The ability of autoaggregation was 23,17%, and the coaggregation with <em>E. coli </em>was 24,85%. The clear zone with a diameter of 10–12 mm appeared in the inhibition test against <em>Escherichia coli </em>and <em>Salmonella</em>. In addtion, we preliminarily determined of formol nitrogen contents and NH3 contents in the traditional fish sauce that was added with the number of lactic bacterial cells. The results showed that after a certain period of survey, formol nitrogen contents increased and NH3 contents reduced in fish sauce.</p> 2019-12-25T00:00:00+00:00 ##submission.copyrightStatement## http://tapchi.huaf.edu.vn/index.php/id20194/article/view/298 KHẢ NĂNG KHÁNG OXY HÓA VÀ HẠ ĐƯỜNG HUYẾT CỦA CÁC CAO CHIẾT PHÂN ĐOẠN VỎ THÂN CÂY CHIÊU LIÊU ĐEN (Terminalia alata Heyne ex Roth) THU THẬP TẠI VƯỜN QUỐC GIA YOKDON 2019-12-26T02:56:26+00:00 Nguyễn Quang Vinh vinh12b@gmail.com Hồ Thị Hảo vinh12b@gmail.com <p>Hoạt tính kháng oxy hoá và hạ đường huyết trên mô hình chuột gây đái tháo đường của các cao chiết phân đoạn từ vỏ thân cây chiêu liêu (<em>Terminalia</em>&nbsp;<em>alata </em>Heyne ex Roth) được nghiên cứu. Hoạt tính kháng oxy hoá được xác định thông qua khả năng dập tắt gốc tự do DPPH (2,2-diphenyl-1-picrylhydrazyl), khả năng ức chế hoạt tính α-amylase, α-glucosidase và khả năng gây hạ đường huyết trên mô hình chuột gây đái tháo đường bằng streptozocin của các cao chiết phân đoạn cũng được xác định. Kết quả cho thấy, hàm lượng polyphenol trong cao chiết tăng theo chiều tăng của độ phân cực của dung môi và khả năng kháng oxy hóa cũng tăng theo chiều tăng của tổng hàm lượng polyphenol. Khả năng ức chế α-amylase thông qua giá trị IC<sub>50</sub> của cao chiết phân đoạn ethyl acetate, butanol và nước lần lượt là 0,056 ± 0,001; 0,138 ± 0,005; 0,022 ± 0,001mg/ml, thấp hơn so với acarbose (0,154 ± 0,02 mg/ml). Tuy nhiên, khả năng ức chế α-glucosidase của các cao chiết phân đoạn đều thấp hơn acarbose (đối chứng dương). Các cao chiết có khả năng ức chế enzyme thủy phân tinh bột cao đều thể hiện hiệu quả gây hạ đường huyết trên chuột gây đái tháo đường bằng streptozocin ở liều dùng 200mg/kg thể trọng và không gây giảm cân ở chuột thí nghiệm như acarbose. Như vậy, các cao chiết phân đoạn ethyl acetate, butanol và nước từ vỏ thân chiêu liêu đen có tiềm năng ứng dụng trong chống lão hóa và đái tháo đường.</p> <p><strong>ABSTRACT</strong></p> <p>Antioxidant activity and anti-hyperglycemic activities fractionation extracts from trunk-bark of <em>Terminalia</em>&nbsp;<em>alata </em>Heyne ex Roth were investigated. The antioxidant activity was determined by DPPH radical scavenging and the antidiabetic activity was determined by digestive enzymes inhibition and lowering fast blood glucose in diabetic rats. The results indicated that polyphenol contents had an increase together with the polarity increase of extraction solvent, and DPPH radical scavenging activity of the fractions also depends on total polyphenol content. α-amylase inhibitory activity of ethyl acetate, butanol and water fraction extracts with the IC<sub>50</sub> values of 0.001; 0.138 ± 0.005; 0.022 ± 0.001mg/ml, respectively was lower than that of acarbose (0.154 ± 0.02 mg/ml). However, IC<sub>50 </sub>values of α-glucosidase inhibitory activity of these fraction extracts were higher than those of acarbose. In addition, these fraction extracts lowered blood glucose levels in streptozotocin induced diabetic rats at the dose of 200 mg/kg body weight but not induced body weight loss in rats comparing to acarbose. The results of the study suggested that the ethylacetate, butanol and water extracts of trunk-bark of <em>Terminalia</em>&nbsp;<em>alata </em>Heyne ex Roth are potentially useful for antiaging and treating diabetes.</p> 2019-12-25T00:00:00+00:00 ##submission.copyrightStatement## http://tapchi.huaf.edu.vn/index.php/id20194/article/view/299 NGHIÊN CỨU ĐIỀU KIỆN NHÂN GIỐNG VÀ NUÔI CẤY ĐẾN KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN VÀ CHẤT LƯỢNG CỦA NẤM SÒ TRẮNG (Pleurotus pulmonarius (Fr.) Quél. 1872) 2019-12-26T03:17:41+00:00 Nguyễn Hiền Trang nguyenhientrang@huaf.edu.vn Trần Thị Thu Hà tranthithuha@huaf.edu.vn <p>Nghiên cứu này xác định một số điều kiện nuôi cấy nhân giống cấp I (nồng độ CaCO<sub>3</sub>, thời gian và nhiệt độ nuôi cấy), môi trường bổ sung nhân giống cấp II (nồng độ CaCO<sub>3</sub>, MgSO<sub>4</sub>, hàm lượng cám và ngô) và giá thể nhân giống cấp III đến khả năng sinh trưởng, phát triển và chất lượng của nấm sò trắng (<em>Pleurotus pulmonarius</em>). Ở môi trường nhân giống cấp I, với nồng độ CaCO<sub>3</sub> bổ sung là 0,5 g/ L, ở 28<sup>o</sup>C, sau 8 ngày cho nấm phát triển tốt nhất. Khi nuôi cấy nhân giống cấp II, sử dụng công thức 25g cám + 25g bột ngô, cùng với việc bổ sung 10 g CaCO<sub>3</sub>/kg và 0,5g/kg MgSO<sub>4</sub> là điều kiện tốt nhất cho nấm sò trắng phát triển. Trong môi trường nhân giống cấp III, sự sinh trưởng của hệ sợi nấm ở công thức A1 cho thấy sự vượt trội, Trong đó số ngày phủ sợi đầy bịch ngắn nhất và động thái phủ sợi nhanh nhất là ở công thức A1 (10kg mùn cao su + 0,5kg cám + 0,5kg bột ngô + 0,15kg CaCO<sub>3</sub> + 0,01kg MgSO<sub>4</sub>) tương ứng là 29 ngày với 0,69cm/ngày, tỷ lệ nhiễm thấp nhất là 2,67%, trọng lượng và đường kính của nấm ở cao nhất (697,33g/bịch, 15,5cm), hàm lượng nước của quả thể nấm 89,17%, hàm lượng lipid 4,53%, hàm lượng protein 28,52%, hàm lượng đường 0,38%.</p> <p><strong>ABSTRACT</strong></p> <p>This study aimed to investigate the effects of the growth and quality of oyster mushroom (<em>Pleurotus pulmonarius</em>) in three phases of propagation. In the first phase of propagation (PDA medium), the results of the study showed that the growth of oyster mushroom was the highest when supplemented by 0.5g/L CaCO<sub>3</sub>, the propagation time was 8 days at temperature of 28°C. When oyster mushroom was cultured in the second phase of propagation (grain medium), its growth was the highest with the treatment of III2 (25g rice bran + 25g corn powder + 10g CaCO<sub>3</sub> + 0.5g MgSO<sub>4</sub>/1kg grain). In the third phase of propagation (substrates medium), the treatment of A1 (10kg rubber tree sawdust&nbsp; + 0.5kg bran + 0.5kg corn powder + 0.15kg CaCO<sub>3</sub> + 0.01kg MgSO<sub>4</sub>) had a higher growth than other treatment. The results indicated the highest mycelium ability of oyster mushroom reached 0.69cm after 29 days; the infection rate was the lowest with 2.67%; the weight and diameter of oyster mushroom were 697.33g/1bag and 15.5cm, respectively. The quality of oyster mushroom produced by the treatment of A1 showed that 89.17% was for water content, 4.53% was for lipid, protein reached 28.52%, and sugars content was 0.38%.</p> 2019-12-25T00:00:00+00:00 ##submission.copyrightStatement## http://tapchi.huaf.edu.vn/index.php/id20194/article/view/314 XÁC ĐỊNH TÍNH CHẤT NHIỆT VẬT LÝ VÀ THỜI GIAN CẤP ĐÔNG MỰC ỐNG (Loligo chinensis) BẰNG PHƯƠNG PHÁP GIẢI TÍCH 2019-12-27T06:57:57+00:00 Hoàng Minh Tuấn hmtuan@hueic.edu.vn <p>Bài báo này trình bày một mô hình giải tích đơn giản để tính toán tính chất nhiệt vật lý và thời gian cấp đông mực ống bằng hai biên đối lưu không đối xứng. Mô hình này dựa vào phương trình cân bằng nhiệt tức thời của vật cho các giai đoạn chuyển pha với quá trình truyền nhiệt không ổn định trong giai đoạn làm lạnh, chuyển pha và quá lạnh. Phương pháp này cho kết quả khá chính xác so các phương pháp đã có từ trước đến nay, kể cả phương pháp sai phân và phần tử hữu hạn. Nhờ các phép tính này dễ dàng lập trình trên máy tính, cho phép dự đoán đơn giản, nhanh chóng và chính xác thời gian cấp đông thực phẩm. Kết quả nghiên cứu chứng minh thời gian cấp đông của phương pháp này so với thực nghiệm và các phương pháp số không quá 10%.</p> <p><strong>ABSTRACT</strong></p> <p>This article presents a simple method to calculate thermal properties and freezing time of squid by two nonsymmetrical convection boundaries. This model was based on the energy balance equation of food products for transition phase with unsteady state heat transfer solutions in pre-cooling, phase change and tempering time. This method provided more accurate results than the previous methods, including the finite difference and element methods. Based on these calculations, it was easy to program on computer and allowed to predict fast, simple and accurate freezing time of food. Compared with the finite element method, this method indicated that freezing time should not exceed 10%.</p> 2019-12-25T00:00:00+00:00 ##submission.copyrightStatement## http://tapchi.huaf.edu.vn/index.php/id20194/article/view/301 NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA THỜI GIAN CHẦN VÀ NỒNG ĐỘ GIẤM BỔ SUNG ĐẾN CHẤT LƯỢNG SẢN PHẨM VẢ DẦM GIẤM 2019-12-26T03:33:43+00:00 Võ Văn Quốc Bảo vovanquocbao@huaf.edu.vn Nguyễn Thị Diễm Hương nguyenthidiemhuong@huaf.edu.vn <p>Nghiên cứu này nhằm xác định ảnh hưởng của thời gian chần, nồng độ giấm trong thành phần dịch rót đến chất lượng, giá trị cảm quan của sản phẩm vả dầm giấm đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng. Thí nghiệm 1 nghiên cứu ảnh hưởng của thời gian chần (2, 4, 6 và 8 phút) và thí nghiệm 2 nghiên cứu ảnh hưởng nồng độ giấm (0,8; 0,9; 1; 1,1 và 1,2%) đến chất lượng sản phẩm vả dầm giấm. Kết quả chỉ ra rằng, nguyên liệu quả vả vẫn giữ cấu trúc, hương vị và màu sắc sau thời gian chần trong 4-6 phút ở 95<sup>0</sup>C. Sản phẩm dòn thơm ngon khi nồng độ giấm bổ sung vào dịch rót là 1%.</p> <p><strong>ABSTRACT</strong></p> <p>The research focused on the effects of blanching time and acetic acid concentration in pouring solution on the quality and sensory values of figs with vinegar in order to meet the needs of consumers. The results of the study indicated that the fig fruit retained its structure, flavor and color when treated with blanching conditions of 4 - 6 minutes at 95<sup>o</sup>C, acetic acid concentration in pouring solution of 1%.</p> 2019-12-25T00:00:00+00:00 ##submission.copyrightStatement## http://tapchi.huaf.edu.vn/index.php/id20194/article/view/302 ẢNH HƯỞNG CỦA LOẠI VÀ LIỀU LƯỢNG PHÂN BÓN ĐẾN NĂNG SUẤT VÀ HIỆU QUẢ KINH TẾ CỦA LÚA TRONG MÔ HÌNH TÔM - LÚA TẠI HUYỆN THẠNH PHÚ, TỈNH BẾN TRE 2019-12-26T03:41:17+00:00 Phạm Thị Phương Thúy thuypt12000@tvu.edu.vn Thái Thị Thanh Trọn thuypt12000@tvu.edu.vn Sơn Thị Thanh Nga thuypt12000@tvu.edu.vn Võ Thị Lào thuypt12000@tvu.edu.vn Hồ Hữu Nhân thuypt12000@tvu.edu.vn <p>Nghiên cứu được thực hiện nhằm xây dựng mô hình sản xuất lúa hữu cơ trên vùng canh tác Tôm - Lúa huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre theo hướng bền vững. Thí nghiệm ngoài đồng ruộng được bố trí trên đất Tôm - Lúa của 3 chân ruộng xã Mỹ An và 3 chân ruộng xã An Điền, huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre. Thí nghiệm được bố trí theo kiểu khối hoàn toàn ngẫu nhiên, gồm 9 nghiệm thức x 3 lần lặp lại. Mô hình trình diễn lúa hữu cơ được thực hiện trên đất của 20 nông hộ, với tổng diện tích 20 ha ở 3 xã Mỹ An, An Điền và Thạnh Phong. Kết quả đề tài đã phân tích 19 mẫu đất, 8 mẫu nước đại diện cho diện tích 100 ha đất trồng lúa hữu cơ có các chỉ số về kim loại nặng trong đất và nước (Hg, As, Cd, Zn, Cu, Cr) đều dưới ngưỡng hoặc không phát hiện. Độ phì tự nhiên trong đất Tôm - Lúa rất cao. Kết quả thí nghiệm ngoài đồng đã kết luận, với lượng bón từ 700 - 1.200 kg/ha phân Sài Gòn Me Kong hữu cơ 35 và Hữu cơ Nhà nông cho năng suất không khác biệt thống kê so với nghiệm thức bón 400 kg/ha phân Lio Thái Gold và ruộng đối chứng bón phân vô cơ (60 N -30 K<sub>2</sub>O -30 P<sub>2</sub>O<sub>5</sub>). Mô hình trình diễn sản xuất lúa hữu cơ khoáng (400 kg/ha phân Lio Thái Gold) và hữu cơ không khoáng (1.000 kg/ha Sài Gòn Me Kong hữu cơ 35) cho năng suất không khác biệt so với mô hình sản xuất lúa vô cơ truyền thống năng suất dao động từ 3,0 - 6,0 tấn/ha, trung bình 4,4 tấn/ha. Với giá lúa cao hơn 1,17 lần (lúa hữu cơ khoáng) và 1,29 lần (lúa hữu cơ không khoáng) thì mô hình sản xuất truyền thống có lợi nhuận thấp hơn mô hình bón phân hữu cơ khoáng là 2,37 triệu đồng/ha tương đương 16,6% và thấp hơn so với mô hình hữu cơ không khoáng là 2,55 triệu đồng/ha tương đương 17,9%. Bên cạnh lợi nhuận kép từ hoạt động nuôi trồng và khai thác tự nhiên đối tượng thủy sản tăng hơn chưa được xem xét.</p> <p><strong>ABSTRACT</strong></p> <p>The study was conducted to build an organic rice production model on the Rice - Shrimp cultivation area in Thanh Phu district, Ben Tre province in a sustainable way. This field experiments were arranged on Rice - Shrimp soil of 3 fields at My An commune and 3 fields at An Dien commune, Thanh Phu district, Ben Tre province. This field experiments were completely randomized, including: 9 treatments x 3 replications. The demonstration model of organic rice was carried out on the land of 20 farmers, with a total area of ​​20 ha in three communes of My An, An Dien and Thanh Phong. The results of the study analyzed 19 soil samples, 8 water samples representing 100 ha of organic rice soil with indicators of heavy metals in soil and water (Hg, As, Cd, Zn, Cu, Cr) which were undetectable or not found. Natural fertility in Shrimp - Rice soil is very high. The field experiment showed that the amount from 700 - 1.200kg/ha of Saigon Me Kong 35 organic and Nha nong organic showed no statistical difference compared to the treatment of 400kg/ha (Lio Thai Gold organic) and inorganic model (60 N-30 K<sub>2</sub>O-30 P<sub>2</sub>O<sub>5</sub>). The demonstration model of organic rice production (400 kg/ha Lio Thai Gold) and organic non-mineral (1,000 kg/ha Saigon Me Kong 35 organic) productivity was not different from the traditional inorganic rice production model. Organic rice yield ranges from 3.0 to 6.0 tons/ha, averaging 4.4 tons/ha. The prices of organic rice having 1.17 times and 1.29 times is higher than inorganic rice, the organic mineral fertilizer model profit is higher than VND 2,37 million/ha, equivalent to 16.6% and VND 2,55 million/ha equivalent to 17.9% for non-mineral organic models. In addition to the mutual profit from the aquaculture and natural exploitation activities, the increased aquatic products have not been considered.</p> 2019-12-25T00:00:00+00:00 ##submission.copyrightStatement## http://tapchi.huaf.edu.vn/index.php/id20194/article/view/305 DỰ ĐOÁN NHANH HẠN SỬ DỤNG CỦA FILLET CÁ TRA LẠNH ĐÔNG BẰNG PHƯƠNG PHÁP MÔ HÌNH TOÁN HỌC 2019-12-26T07:27:20+00:00 Nguyễn Thị Trúc Loan nttloan@dut.udn.vn Trần Thị Nguyên nttloan@dut.udn.vn Trần Thị Hoài Thu nttloan@dut.udn.vn <p>Trong nghiên cứu này, phương pháp mô hình toán học được sử dụng để dự đoán nhanh hạn sử dụng của fillet cá tra lạnh đông. Cá tra tươi sau khi mua về tiến hành fillet, rửa sạch, cho vào các túi nilon, kéo zip, để lạnh đông ở -25 °C trong vòng 6 giờ, sau đó bảo quản ở 3 mức nhiệt độ -3, -8, -13<sup>°</sup>C để theo dõi sự hư hỏng của sản phẩm thông qua việc đo mức độ oxy hóa chất béo và phần trăm khối lượng sụt giảm của sản phẩm theo chu kỳ 7 ngày/lần. Kết quả nghiên cứu cho thấy sự sụt giảm khối lượng mới là nguyên nhân gây hư hỏng chính cho sản phẩm. Phần trăm khối lượng sụt giảm tuân theo phản ứng bậc 0 của phương trình Arrhenius với năng lượng hoạt hóa Ea = 36,315 kJ/mol, hằng số tốc độ phản ứng (k) là một hàm của nhiệt độ (T) thể hiện bởi phương trình: &nbsp; , R<sup>2</sup> = 0,98. Hạn sử dụng của fillet cá tra lạnh đông bảo quản ở -20 <sup>°</sup>C được tính bằng phương trình bằng 3,2 tháng phù hợp với hạn sử dụng thực tế.</p> <p><strong>ABSTRACT</strong></p> <p>In this study, the mathematical modelling method was used to rapidly predict the shelf life of frozen fillet pangasiuss. Fresh Pangasius, after being purchased, filleted, washed, put into zip-cold, frozen plastic bags at -25<sup>°</sup>C for 6 hours, then stored at 3 temperature levels -3, -8, -13°C to monitor product deterioration through measuring the level of fat oxidation and the percentage of weight loss of the product every 7 days. Research results showed that the weight loss is the main cause of product deterioration. The percentage of weight loss followed the zero-order reaction according to the Arrhenius model with the activation energy E<sub>a</sub> = 36,19 kJ/mol, the reaction rate constant (k) is a function of temperature (T) expressed by the equation &nbsp;(R<sup>2</sup> = 0,98). Shelf life of frozen fillet pangasius preserved at -20<sup>o</sup>C that calculated by the equation is 3,12 months in accordance with the actual shelf life.</p> <p>&nbsp;</p> 2019-12-25T00:00:00+00:00 ##submission.copyrightStatement## http://tapchi.huaf.edu.vn/index.php/id20194/article/view/307 NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA MẬT ĐỘ CẤY VÀ LIỀU LƯỢNG PHÂN BÓN ĐẾN SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN VÀ NĂNG SUẤT GIỐNG LÚA NẾP 98 TẠI TỈNH HÀ TĨNH 2019-12-26T07:44:18+00:00 Trần Thị Lệ tranthile@huaf.edu.vn Hoàng Hiệp tranthile@huaf.edu.vn <p>Đề tài được thực hiện trong vụ Đông Xuân 2017-2018 tại Trung tâm giống cây trồng ở xã Thạch Vịnh, huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh. Thí nghiệm gồm 2 nhân tố và 9 công thức (3 mức phân bón: P1&nbsp;(74N + 75P<sub>2</sub>O<sub>5</sub>+72K<sub>2</sub>O); P2 (83N + 75P<sub>2</sub>O<sub>5</sub> + 84K<sub>2</sub>O); P3(92N + 75P<sub>2</sub>O<sub>5</sub> + 96K<sub>2</sub>O) và 3 mật độ cấy (M1: 40 khóm/m<sup>2</sup>; M2: 45 khóm/m<sup>2</sup> và M3: 50 khóm/m<sup>2</sup>). Mục đích của đề tài là đánh giá khả năng sinh trưởng, phát triển và năng suất của giống lúa nếp 98 tại các mức phân bón và mật độ cấy khác nhau, từ đó xác định được liều lượng phân bón và mật độ cấy phù hợp. Kết quả nghiên cứu cho thấy, công thức P2M2 (mức phân bón P2 (83N + 75P<sub>2</sub>O<sub>5</sub> + 84K<sub>2</sub>O)) và mật độ cấy M2: 45 khóm/m<sup>2</sup> cho năng suất lý thuyết và thực thu cao nhất, tương ứng là 96,89 tạ/ha và 72,67 tạ/ha.</p> <p><strong>ABSTRACT</strong></p> <p>This study was carried out in the spring - winter crop of 2017 - 2018 at Center for crop varieties in Thach Vinh commune, Thach Ha district, Ha Tinh province. The experiment consisted of two factors (three fertilizer rates: P1&nbsp;(74N + 75P<sub>2</sub>O<sub>5</sub>+72K<sub>2</sub>O); P2 (83N + 75P<sub>2</sub>O<sub>5</sub> + 84K<sub>2</sub>O); P3(92N + 75P<sub>2</sub>O<sub>5 </sub>+ 96K<sub>2</sub>O) and 3 transplanting densities: M1: 40 seedlings/m<sup>2</sup>; M2: seedlings 45/m<sup>2</sup> và M3: 50 seedlings/m<sup>2</sup>) with total of 9 treatments. The purpose of the study is to evaluate on the growth, development, and yield of the experimental formulas of the glutinous rice variety 98, then to determine the appropriate rate of fertilizer and transplanting density for glutinous rice variety with high productivity. Results of the study showed that P2M2 (fertilizer rate of P2: 83N + 75P<sub>2</sub>O<sub>5</sub> + 84K<sub>2</sub>O) and transplanting density of M2 with 45 seedlings/m<sup>2</sup>) provided 96.89 quintals/ha and 72.67 quintals/ha, respectively for the highest theoretical and actual yield.</p> 2019-12-25T00:00:00+00:00 ##submission.copyrightStatement## http://tapchi.huaf.edu.vn/index.php/id20194/article/view/308 ẢNH HƯỞNG CỦA SUPASTOCK LÊN THÀNH PHẦN VÀ MẬT ĐỘ THỨC ĂN TỰ NHIÊN TRONG AO ƯƠNG TÔM POST - LARVAE TẠI KHU VỰC THỪA THIÊN HUẾ 2019-12-26T07:52:10+00:00 Nguyễn Phi Nam nguyenphinam@huaf.edu.vn Lê Minh Tuệ leminhtue@huaf.edu.vn Trần Thị Thúy Hằng tranthithuyhang@huaf.edu.vn <p>Nghiên cứu được thực hiện nhằm đánh giá ảnh hưởng của chế phẩm Supastock lên thành phần và mật độ thức ăn tự nhiên trong ao ương tôm thẻ chân trắng. Sáu ao nuôi được bố trí ngẫu nhiên vào 2 nghiệm thức: (A) bổ sung chế phẩm Supastock 2 ngày 1 lần và (B) đối chứng, không bổ sung. Ao được lót bạt và mỗi ao có diện tích 2.000 m<sup>2</sup>/ao, và mật độ nuôi là 500 con/m<sup>2</sup>. Mẫu định tính và định lượng động và thực vật phù du được thu 2 ngày/lần để xác định thành phần loài và mật độ. Kết quả thí nghiệm cho thấy, số loài và mật độ thực vật phù du ở 2 nghiệm thức không sai khác có ý nghĩa thống kê (p&gt;0,05). Số loài thực vật phù du ở nghiệm thức A và B tương ứng 61 và 59; mật độ ở ngày thứ 12 sau khi thả tôm giống tương ứng là 385,00.10<sup>4 </sup>tế bào/mL và 494,67.10<sup>4 </sup>tế bào/mL. Trong khi đó, số loài động vật phù du không sai khác (p&gt;0,05) nhưng mật độ động vật phù du ở nghiệm thức A cao hơn B có ý nghĩa thống kê (p&lt;0,05). Số loài động vật phù du ở nghiệm thức A và B tương ứng 43 và 46; mật độ ở ngày thứ 8 sau khi thả tôm giống tương ứng 2.263 cá thể/mL và 530,0 cá thể/mL. Như vậy, bổ sung chế phẩm Supastock đã tăng mật độ thức ăn tự nhiên trong ao ương tôm post.</p> <p><strong>ABSTRACT</strong></p> <p>This study was conducted to evaluate the effects of Supastock application on composition of zooplanton and phyplanton and their densities in nursery ponds of white leg shrimp. Six ponds of 2,000 m<sup>2</sup>/pond were randomly allocated to two treatments: (A) in which ponds with Supastock application in two days interval and (B as control), ponds without applying Supastock. Post-larvae fries were stocked with density of 500 post-larvae/m<sup>2</sup>. Samples of phytoplankton and zooplankton were collected in 2 days per time in order to classify species and to measure their densities. The results showed that the composition and densities of phyplanton in A and B were not significant between treatments (p&gt;0,05), 61 and 59 species, and the densities of phytoplankton in the twelfth day were recorded 385,000.10<sup>4</sup> cells/mL and 494,67.10<sup>4 </sup>cells/mL, respectively. The species of zooplankton between two treatments were not significant different (p&gt;0,05), but the densities of zooplankton were significantly different (p&lt;0.05) among treatments. Zooplanton densities in (A) were higher than that in (B). During 8 days after stocking, zooplanton density in A was 2,263 ind./mL and in B is 530,0 ind,/mL. In conclusion, application of Supastock in nursery ponds of post-larvae shrimp improved density of livefood.</p> <p>&nbsp;</p> 2019-12-25T00:00:00+00:00 ##submission.copyrightStatement## http://tapchi.huaf.edu.vn/index.php/id20194/article/view/309 NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA ALGINATE KẾT HỢP NANOCHITOSAN ĐẾN CHẤT LƯỢNG CỦA CỦ NÉM (Allium schoenoprasum) TRONG QUÁ TRÌNH BẢO QUẢN 2019-12-26T08:00:07+00:00 Nguyễn Hiền Trang nguyenhientrang@huaf.edu.vn Nguyễn Thị Hương nguyenhientrang@huaf.edu.vn Nguyễn Thỵ Đan Huyền nguyenthydanhuyen@huaf.edu.vn <p>Nghiên cứu này nhằm khảo sát ảnh hưởng của alginate (2%) kết hợp nanochitosan (0,05; 0,1; 0,2 và 0,4%) đến chất lượng của củ ném trong quá trình bảo quản. Lấy mẫu định kỳ 15 ngày một lần đểxác định cường độ hô hấp, hao hụt khối lượng, tỷ lệ hư hỏng, hàm lượng chất khô hòa tan, hàm lượng vitamin C, hàm lượng đường và hàm lượng tinh dầu. Kết quả nghiên cứu cho thấy thời gian thu hoạch củ ném tốt nhất trong khoảng 210 ngày (7 tháng) sau khi gieo cho củ ném có hàm lượng chất khô hòa tan (21,473%), hàm lượng đường (11,073%), hàm lượng vitamin C (0,083%), hàm lượng tinh dầu tốt nhất (0,733%). Trong quá trình bảo quản, củ ném được bao màng với alginate 2% kết hợp nanochitosan 0,2% cho kết quả tốt hơn so với mẫu đối chứng (không bao chế phẩm) và các mẫu bao màng riêng rẽ (nanochitosan 0,2% hoặc alginate 2%). Sau 3 tháng bảo quản, củ ném có bao màng với alginate 2% kết hợp nanochitosan 0,2% vẫn đạt chất lượng tốt hơn so với các mẫu khác với cường độ hô hấp (17,106 mLCO2/kg.h), tỷ lệ hư hỏng (27,450% ) và tỷ lệ hao hụt khối lượng (27,297%) thấp nhất, trong khi đó hàm lượng chất khô hòa tan (17,103%), hàm lượng vitamin C (0,044%), hàm lượng đường (8,076%) và hàm lượng tinh dầu (0,446%) cao hơn.</p> <p><strong>ABSTRACT</strong></p> <p>This study aimed to investigate the effect of combination of alginate (2%) and nanochitosan (0.05; 0.1; 0.2 và 0.4%) on the quality of chives during preservation. Samples were taken regularly about 15 days to determine respiration rate, weight loss, spoilage rate, total soluble solid, vitamin C, reducing sugars and oil content. The results of the study showed that the appropriate harvesting time of the chives bulb was about 210 days (7 months) after planting. The quality of chives bulb was the highest in the total soluble solid (21.473%), reducing sugars (11.073%), vitamin C (0.083%) and oil content (0.733%). During preservation, the quality of chives bulb in treatment of alginate 2% + nanochitosan 0.2% coating was better than other treatments (the control (no treatment), the treatments of alginate 2% or nanochitosan 0.2% coating). After 3 months of preservation, the results indicated the lowest of respiration rate reached 17.106 mLCO<sub>2</sub>/kg.h; the spoilage rate and weight loss were the lowest reaching 27.450% and 27.297%. The quality indexes of chives bulb (treatments of alginate 2% + nanochitosan 0.2% coating) such as the total soluble solid, vitamin C, reducing sugars and oil content were the highest values of 17.103%; 0.044%;&nbsp; 8.076% and 0.446%, respectively.</p> 2019-12-25T00:00:00+00:00 ##submission.copyrightStatement## http://tapchi.huaf.edu.vn/index.php/id20194/article/view/310 ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG CHỊU HẠN CỦA MỘT SỐ GIỐNG NGÔ LÀM THỨC ĂN GIA SÚC TẠI TỈNH NINH THUẬN 2019-12-26T08:11:37+00:00 Phan Công Kiên nguyenvson79@gmail.com Đặng Hoàng Nhi nguyenvson79@gmail.com Trịnh Thị Vân Anh nguyenvson79@gmail.com Trần Thị Thảo nguyenvson79@gmail.com Võ Thị Xuân Trang nguyenvson79@gmail.com Vũ Thị Dung nguyenvson79@gmail.com Đào Ngọc Ánh nguyenvson79@gmail.com Hà Văn Giới nguyenvson79@gmail.com Nguyễn Văn Sơn nguyenvson79@gmail.com <p>Đánh giá khả năng chịu hạn của 22 giống ngô làm thức ăn gia súc ở thời kỳ cây con bằng phương pháp gây hạn nhân tạo khi gieo hạt giống vào các chậu cát sạch với số lượng 30 hạt/chậu, lặp lại 3 lần, chăm sóc đến khi cây con được 3 lá thì tiến hành gây hạn và đánh giá khả năng chịu hạn ngoài đồng ruộng bằng cách thực hiện ở chế độ có tưới nước và chế độ không tưới nước gieo đối đầu nhau, bố trí theo phương pháp RCBD, lặp lại 3 lần. Kết quả khi đánh giá chịu hạn của 22 giống ngô làm thức ăn gia súc ở thời kỳ cây con bằng phương pháp gây hạn nhân tạo đã xác định được giống ngô SSC150354 có khả năng chịu hạn cao nhất với chỉ số chịu 37439,2. Tương tự, khi đánh giá khả năng chịu hạn ngoài đồng thực hiện bằng 02 chế độ tưới nước đầy đủ và tưới nước hạn chế cũng đã xác định được giống ngô SSC150354 có khả năng chịu hạn tốt nhất với chỉ số chịu hạn là 2,02.</p> <p><strong>ABSTRACT</strong></p> <p>This study is to evaluate the drought tolerance of 22 maize varieties for seedling period by artificial drought method when sowing seeds in clean sand pots with a quantity of 30 seeds/pot, using three replications, take care of squirrels until the seedlings get 3 leaves causing artificial drought; and to evaluate the drought tolerance capacity implementing watering and non-watering systems, arranged by RCBD with three replications. The results of the drought tolerance evaluation of 22 maize varieties in the seedling period by artificial drought method identified the maize variety SSC150354 had the highest drought tolerance index of 37439,2. Similarly, the drought tolerance in fields performed by watering and non-watering, the maize variety SSC150354 was identified with the best drought tolerance of 2,02.</p> <p>&nbsp;</p> 2019-12-25T00:00:00+00:00 ##submission.copyrightStatement## http://tapchi.huaf.edu.vn/index.php/id20194/article/view/311 ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC SINH SẢN CỦA SÒ MÍA (Tapes dorsatus, (Lamarck, 1818)) TẠI BÌNH ĐỊNH 2019-12-26T08:27:23+00:00 Lê Tấn Phát tonthatchat@huaf.edu.vn Tôn Thất Chất tonthatchat@huaf.edu.vn <p>Sò Mía (<em>Tapes dorsatus</em>) là loài hai mảnh vỏ thịt thơm ngon, giàu dinh dưỡng và có giá trị kinh tế cao. Đặc điểm sinh học sinh sản của sò Mía phân bố tại vùng ven biển Bình Định được nghiên cứu từ tháng 6 năm 2018 đến tháng 5 năm 2019. Kết quả cho thấy: mùa vụ sinh sản của sò Mía quanh năm, tập trung từ tháng 9 năm trước đến tháng 4 năm sau, rộ nhất vào tháng 3. Tỷ lệ đực/cái các tháng trong năm dao động từ 0,89 - 1,18; tỷ lệ đực/cái giảm theo chiều tăng kích thước chiều dài. Sò Mía thành thục sinh dục lần đầu khi chiều dài 51 mm. Hệ số sinh dục (GI) của sò Mía cao nhất vào tháng 3 (38% đối với sò cái và 35% đối với sò đực), thấp nhất vào tháng 8 đối với sò cái (31%) và tháng 7 đối với sò đực (30%); GI của sò Mía tăng theo kích thước chiều dài. Sức sinh sản tuyệt đối (Fa) dao động từ 837.300 - 2.562.900 trứng/cá thể, trung bình 1.433.734 trứng/cá thể; Sức sinh sản tương đối tính theo khối lượng toàn thân (Frg) dao động từ 17.012 - 46.774 trứng/g, trung bình 29.538 trứng/g. Kết quả nghiên cứu góp phần cung cấp dữ liệu cho việc sản xuất giống nhân tạo phục vụ nuôi, bảo tồn và phát triển bền vững nguồn lợi sò Mía tự nhiên.</p> <p><strong>ABSTRACT </strong></p> <p>The clam (<em>Tapes dorsatus</em>) is biavalvia with delicious and nutritious meat, and high economic value. The study on reproductive biology of clam (<em>Tapes dorsatus</em>, (Lamarck, 1818)) was conducted from June 2018 to May 2019 in the coastal zone of Binh Dinh province. The result showed that the spawning season was yearround, concentrated from September last year to April this year and the peak of spawning occurred in March. The sex ratio in the population (male: female) from 0,89 to 1,18, the average was 1: 1, the sex ratio (male: female) decreased with increasing the size of the length. The first size sexual maturity of the clam <em>Tapes dorsatus</em> when its length was 51 mm. The gonado index (GI) of the clam was the highest value in March (38% for female, 35% for male clam) and the lowest value in August for female and in July for male (31% for female, 30% for male clam); The GI increased in proportion to the length of the clam. Absolute fecundity (Fa) ranged from 837.300 to 2.562.900 eggs/individual, the average is 1.433.734 eggs/individual. Relative fecundity by body weight (Frg) is 29.538 eggs/gr. Our findings contribute information to the artificial seed production for aquaculture, conservation and sustainable development of native clam (<em>Tapes dorsatus</em>) resources.</p> <p>&nbsp;</p> 2019-12-25T00:00:00+00:00 ##submission.copyrightStatement## http://tapchi.huaf.edu.vn/index.php/id20194/article/view/312 NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA PHÂN BÓN ĐẾN CÂY ĐỊA LIỀN TẠI THỪA THIÊN HUẾ 2019-12-26T08:33:55+00:00 Nguyễn Đình Thi nguyendinhthi@huaf.edu.vn Hoàng Kim Toản nguyendinhthi@huaf.edu.vn Trần Thị Thu Giang nguyendinhthi@huaf.edu.vn Đặng Văn Sơn nguyendinhthi@huaf.edu.vn Nguyễn Thanh Hiếu nguyendinhthi@huaf.edu.vn Nguyễn Thị Dung nguyendinhthi@huaf.edu.vn Đào Lê Minh Hạnh nguyendinhthi@huaf.edu.vn <p>Nghiên cứu được tiến hành từ tháng 2 đến tháng 12 năm 2018 tại phường Hương Long, thành phố Huế, mỗi thí nghiệm được bố trí theo phương pháp khối hoàn toàn ngẫu nhiên (RCBD) với 3 lần nhắc lại nhằm xác định liều lượng bón phù hợp từng loại phân cho cây địa liền. Kết quả từ nghiên cứu cho thấy: 1) Cây địa liền khi được bón với liều lượng và loại phân phù hợp đã tăng sinh trưởng lá, củ, các yếu tố cấu thành năng suất, năng suất củ tươi và hiệu quả kinh tế so với không bón; 2) Bón 15 tấn/ha phân chuồng cho địa liền thu được 23,18 tấn củ và lãi đạt 427,0 triệu đồng; 3) Bón 3 tấn/ha phân hữu cơ sinh học hoặc 2 – 3 tấn/ha phân hữu cơ vi sinh thu được 25,27 – 26,39 tấn củ và cho lãi tới 477,8 – 502,8 triệu đồng; 4) Bón phân hữu cơ vi sinh có tác dụng tăng sinh trưởng thân, lá, củ và năng suất cao hơn so với phân hữu cơ sinh học ở cùng liều lượng bón; 5) Bón 120 kg N + 120 kg P2O5 + 90 kg K2O trên nền 5 tấn/ha phân chuồng thu được 23,72 tấn củ và lãi đạt 437,7 triệu đồng.</p> <p><strong>ABSTRACT</strong></p> <p>The study was conducted from February to December 2018 in Huong Long commune, Hue city. Each experiment was arranged in a completely randomized block design (RCBD) with 3 replications to determine the appropriate rate for each type of fertilizer on sand ginger. Five main results were identified, including: 1) When sand ginger was fertilized by the appropriate dosage, there was an increase in its leaves, roots, yielding components, fresh yield and economic efficiency compared to the control; 2) Applying 15 tons/ha of manure yield of 23.18 tons of fresh rhizome and profit was 427.0 million VND; 3) Applying 3 tons/ha of bio-organic fertilizer or 2 - 3 tons/ha of micro-organic fertilizer yielded 25.27 - 26.39 tons of fresh rhizome and profit was 477.8 – 502.8 million; 4) Fertilizing micro-organic fertilizer had a better effect than bio-organic fertilizer at the same dosage; 5) Applying 120kg N + 120kg P<sub>2</sub>O<sub>5</sub> + 90kg K<sub>2</sub>O on the substrate of 5 tons/ha of manure yielded 23.72 tons of fresh rhizome and profit was 437.7 million VND.</p> <p>&nbsp;</p> 2019-12-25T00:00:00+00:00 ##submission.copyrightStatement## http://tapchi.huaf.edu.vn/index.php/id20194/article/view/313 PHÂN LẬP VÀ XÁC ĐỊNH MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC CÁC CHỦNG Streptococus agalactiae GÂY BỆNH TRÊN CÁ RÔ PHI ĐỎ (Oreochromis sp.) NUÔI TẠI THỪA THIÊN HUẾ 2019-12-26T08:39:59+00:00 Nguyễn Ngọc Phước nguyenngocphuoc@huaf.edu.vn Trần Thị Nhật Anh nguyenngocphuoc@huaf.edu.vn Nguyễn Thị Huế Linh nguyenngocphuoc@huaf.edu.vn <p><em>Streptococcus agalactiae</em> là một trong những tác nhân chính gây bệnh trên cá diêu hồng hay rô phi đỏ (<em>Oreochromis</em> sp.) nuôi trên thế giới. Nghiên cứu này đã phân lập được 27 chủng cầu khuẩn <em>Streptococus</em> trên cá rô phi bị bệnh nuôi tại thị xã Hương Trà và Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên Huế. Cá rô phi bị bệnh có các dấu hiệu bệnh lý đặc trưng như mắt lồi, bơi xoắn ốc, xuất huyết ở các gốc vây và viêm màng não. Kết quả định danh bằng phản ứng ngưng kết kháng nguyên (Lancefield test) cho thấy tất cả 27 chủng này đều là vi khuẩn <em>S. agalactiae</em> nhóm B, các chủng vi khuẩn này có hình cầu, phản ứng âm tính với oxidase, catalase, bile esculine và gây tan huyết hoàn toàn (tan huyết β) trên môi trường thạch máu. Các chủng vi khuẩn phân lập được khá đồng nhất về đặc điểm sinh hóa. Liều gây chết 60% đối với cá rô phi thí nghiệm của các chủng HT 1.1 là 5 x 10<sup>4</sup> cfu/mL, chủng HTH 2.3 và chủng BD 1.2 là 2 x 10<sup>4</sup> cfu/mL. Các chủng vi khuẩn<em> S. agalactiae</em> phân lập được trên cá rô phi đỏ nuôi tại Thừa Thiên Huế nhạy cảm với các loại kháng sinh ampicillin, amoxicillin và oxacillin.</p> <p><strong>ABSTRACT </strong></p> <p><em>Streptococcus agalactiae</em> is one of the major pathogens in red tilapia (<em>Oreochromis</em> sp.) cultured in the world. In this study, 27 &nbsp;isolates of <em>Streptococcus</em> were recovered from diseased red tilapia that showed characteristically pathological signs such as pop-eyes, erotic swimming, hemorrhagic and meningitis. All isolates of <em>Streptococcus</em> were recovered from natural diseased fish on red tilapia farms including 2 districts (Huong Tra and Huong Thuy, Thua Thien Hue province). All isolates of <em>Streptococcus</em> were identified as Group B <em>S. agalactiae</em> by Lancefield test. Biological characteristics of isolates were homogeneous, consisting of cocci, non-motile, negative reaction with oxidase, catalase, bile esculine and showed β haemolytic in the blood agar. The lethal dose of 60% of <em>S. agalactiae</em> isolate of HT 1.1 was 5 x 10<sup>4</sup> cfu/mL, and the isolates of HTH 2.3 and BD 1.2 were 2 x 10<sup>4</sup> cfu/mL. &nbsp;The result of the resistant test to antibiotic showed that most of the isolates of <em>Streptococcus</em> were sensitive to ampicillin, amoxicillin and oxacillin.</p> 2019-12-25T00:00:00+00:00 ##submission.copyrightStatement##